MẸ NẰM LẠI VỚI ĐẤT QUÊ - CÂU CHUYỆN VỀ BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG MẸ NẰM LẠI VỚI ĐẤT QUÊ CÂU CHUYỆN VỀ BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG PHẠM THỊ BẢY (1921 – 1968)
Mẹ Phạm Thị Bảy sinh năm 1921, là người phụ nữ nông thôn thuần hậu, chất phác, cả đời gắn bó với ruộng đồng An Trường. Mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Bá Trang (sinh năm 1910), người cùng quê, sinh được năm người con – ba trai, hai gái. Gia đình đông con, cuộc sống nhiều thiếu thốn, nhưng trong căn nhà nhỏ của Mẹ luôn đầy ắp tình thương, sự đùm bọc và tinh thần yêu nước được nuôi dưỡng từ những điều giản dị nhất.
MẸ NẰM LẠI VỚI ĐẤT QUÊ CÂU CHUYỆN VỀ BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG PHẠM THỊ BẢY (1921 – 1968) Trong những ngày đi sưu tầm tư liệu phục vụ công tác giáo dục truyền thống cho đoàn viên, tôi trở về xã An Trường, huyện Càng Long. Vùng quê hôm nay bình yên với ruộng lúa xanh rì, con kênh hiền hòa soi bóng hàng dừa nước. Nhưng càng lắng nghe những câu chuyện của người dân nơi đây, tôi càng cảm nhận rõ rằng: mảnh đất này đã từng thấm rất nhiều nước mắt và máu xương. Một trong những câu chuyện khiến tôi không thể nào quên là cuộc đời ngắn ngủi nhưng vô cùng cao cả của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Bảy. Mẹ Phạm Thị Bảy sinh năm 1921, là người phụ nữ nông thôn thuần hậu, chất phác, cả đời gắn bó với ruộng đồng An Trường. Mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Bá Trang (sinh năm 1910), người cùng quê, sinh được năm người con – ba trai, hai gái. Gia đình đông con, cuộc sống nhiều thiếu thốn, nhưng trong căn nhà nhỏ của Mẹ luôn đầy ắp tình thương, sự đùm bọc và tinh thần yêu nước được nuôi dưỡng từ những điều giản dị nhất. Chiến tranh chống đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt, quê hương An Trường không còn yên bình. Những người con của Mẹ lớn lên trong tiếng bom, trong nỗi đau của làng xóm bị càn quét, và họ sớm chọn cho mình con đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Mẹ Bảy không giữ con ở lại. Mẹ hiểu rằng, nỗi đau của một người mẹ không thể so sánh với nỗi đau mất nước của cả dân tộc. Người con trai đầu của Mẹ hy sinh là liệt sĩ Nguyễn Quốc Giám, sinh năm 1948. Anh tham gia cách mạng ngày 01 tháng 01 năm 1967, cấp bậc Thượng sĩ, thuộc Tiểu đoàn 501, tỉnh Trà Vinh. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, anh luôn là người đi đầu trong nhiệm vụ, mang trong tim lời dặn dò của Mẹ: “Vì nước mà đi, có hy sinh cũng không hối tiếc.” Tháng 5 năm 1970, anh anh dũng hy sinh vì sự nghiệp chống đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc. Tin con ngã xuống chưa kịp đến tai Mẹ thì Mẹ đã ra đi từ trước đó, mang theo nỗi lo thường trực cho tương lai của các con. Mẹ Phạm Thị Bảy mất năm 1968, khi cuộc kháng chiến vẫn còn khốc liệt. Mẹ ra đi khi chưa kịp nhìn thấy ngày đất nước hòa bình, chưa kịp ôm các con vào lòng trong những ngày yên tiếng súng. Nhưng sự hy sinh của Mẹ chưa dừng lại ở đó.



