Mẹ Nguyễn Thị Lựu – Người phụ nữ giàu nghị lực
Mẹ Nguyễn Thị Lựu – Người phụ nữ giàu nghị lực
Vùng đất Tịnh Biên, nơi những dãy núi nối tiếp nhau chạy dọc biên giới Tây Nam, đã chứng kiến biết bao đổi thay của lịch sử. Nơi đây từng là chiến trường khốc liệt, nơi biết bao người con ưu tú đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Giữa vùng quê ấy có một người phụ nữ bình dị, cả cuộc đời gắn với chiếc đòn gánh, tấm đệm đan bằng tay và những tháng ngày lặng lẽ cống hiến cho cách mạng. Đó là Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Lựu.
Mẹ Nguyễn Thị Lựu sinh năm 1933 tại ấp Phú Nhứt, xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (nay là khóm Phú Hiệp, phường Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Tuổi thơ của mẹ gắn liền với những năm tháng quê hương còn chìm trong ách đô hộ của thực dân. Là vùng đất giáp biên giới, An Giang thường xuyên chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh. Hình ảnh những mái nhà cháy dở, những người dân phải ly tán và tiếng súng vang lên giữa núi rừng đã in sâu vào ký ức của cô bé Nguyễn Thị Lựu.
Những mất mát ấy đã nuôi lớn trong mẹ một tình yêu quê hương tha thiết và khát vọng được góp một phần nhỏ bé để đất nước sớm có ngày hòa bình.
Cuộc sống gia đình vốn đã nghèo khó lại càng thêm vất vả khi mẹ bước vào tuổi trưởng thành. Năm 1951, mẹ kết duyên với ông Nguyễn Văn Đởm, một người nông dân hiền lành nhưng giàu lòng yêu nước. Hai vợ chồng cùng nhau dựng nên mái nhà nhỏ, chăm chỉ làm ăn và lần lượt đón bốn người con ra đời.
Hạnh phúc của một gia đình nông dân tưởng chừng sẽ bình yên với ruộng đồng và những mùa lúa chín. Nhưng chiến tranh đã không cho họ một cuộc sống như bao người mong ước.
Đầu năm 1954, phong trào cách mạng tại địa phương ngày càng phát triển. Chứng kiến nhiều thanh niên trong làng lên đường tham gia kháng chiến, mẹ Lựu quyết định âm thầm góp sức bằng những công việc phù hợp với mình.
Ban ngày, mẹ đan đệm, làm thuê, làm mướn để kiếm từng đồng nuôi các con nhỏ.
Đêm xuống, khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ, mẹ lại lặng lẽ gánh những bao gạo, thuốc men, quần áo băng qua những con đường rừng hiểm trở để tiếp tế cho bộ đội.
Có những đêm mưa rừng xối xả. Có những lần phải đi trong bóng tối, chỉ nghe tiếng côn trùng và tiếng lá rừng xào xạc.
Chỉ cần bị địch phát hiện, mẹ có thể bị bắt, bị tra khảo hoặc mất đi tính mạng. Thế nhưng, mẹ chưa bao giờ nghĩ đến việc dừng lại.
Đối với mẹ, mỗi bao gạo được chuyển đến chiến khu không chỉ giúp các chiến sĩ có thêm sức chiến đấu mà còn góp phần nuôi dưỡng niềm tin vào ngày đất nước hoàn toàn độc lập.
Trong khi mẹ âm thầm tiếp tế cho cách mạng thì chồng mẹ cũng quyết định rời gia đình để trực tiếp cầm súng chiến đấu.
Cùng năm 1954, ông Nguyễn Văn Đởm tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Suốt gần hai mươi năm hoạt động, ông luôn có mặt ở những nơi khó khăn nhất, không quản hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Ở quê nhà, mẹ vừa chăm sóc bốn người con, vừa chờ đợi tin chồng. Mỗi lần nghe tin có trận đánh lớn, lòng mẹ lại thấp thỏm. Mỗi lá thư gửi về đều được mẹ nâng niu như báu vật. Nhưng rồi điều mà mẹ lo sợ nhất cũng đã xảy ra. Năm 1973, ông Nguyễn Văn Đởm anh dũng hy sinh. Tin dữ đến với mẹ như một nhát dao cắt vào trái tim người vợ. Người bạn đời đã cùng mẹ đi qua bao năm tháng gian khó giờ mãi mãi không trở về.
Bốn người con còn thơ dại nhìn mẹ với ánh mắt ngơ ngác, còn mẹ phải gạt nước mắt để trở thành chỗ dựa duy nhất của cả gia đình.
Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi ngoai thì chiến tranh lại tiếp tục cướp đi người con mà mẹ luôn tự hào.
Con trai cả của mẹ là Nguyễn Văn Nê, thường gọi là Quốc Việt, sinh năm 1952. Mới mười hai tuổi, anh đã tham gia dân công hỏa tuyến, góp sức vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ kháng chiến.
Lớn lên trong khói lửa chiến tranh và được cha mẹ giáo dục bằng lòng yêu nước, anh tiếp tục gắn bó với quân đội sau ngày đất nước thống nhất. Anh được phân công công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang với cương vị Trung đội trưởng.
Cuối năm 1977, khi biên giới Tây Nam bị các lực lượng Pôn Pốt liên tục gây hấn, anh lại lên đường bảo vệ biên cương Tổ quốc. Ngày tiễn con đi, mẹ hiểu rằng con đang tiếp nối con đường mà cha mình còn dang dở.
Rồi ngày 5 tháng 4 năm 1978, trong khi làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, anh Nguyễn Văn Nê đã anh dũng hy sinh khi mới hai mươi sáu tuổi.
Một lần nữa, người mẹ già phải đón nhận giấy báo tử. Người chồng đã hy sinh. Người con trai cả cũng ngã xuống. Nỗi đau tưởng chừng không gì có thể xoa dịu. Nhưng mẹ không để mình gục ngã.
Sau này, khi nhắc về những mất mát của gia đình, mẹ từng chia sẻ một câu nói giản dị mà khiến ai nghe cũng xúc động:
"Chồng con ngã xuống vì nước, mình ở lại phải sống cho xứng đáng với họ."
Câu nói ấy không chỉ thể hiện nghị lực của một người mẹ mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của những người còn sống đối với sự hy sinh của các thế hệ đi trước.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, mẹ trở lại với công việc quen thuộc là đan đệm để nuôi ba người con còn lại.
Đôi bàn tay từng gánh gạo vào rừng năm nào lại miệt mài đan từng tấm đệm để đổi lấy từng bữa cơm cho gia đình.
Cuộc sống vẫn còn nhiều thiếu thốn nhưng trong ngôi nhà nhỏ ấy chưa bao giờ thiếu đi tình yêu thương và niềm tin.
Mẹ luôn dạy các con phải sống trung thực, biết yêu thương mọi người và gìn giữ truyền thống cách mạng của gia đình.
Nhờ sự hy sinh và tần tảo của mẹ, các con đều trưởng thành, sống nhân nghĩa và trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Năm 2016, Chủ tịch nước phong tặng mẹ danh hiệu cao quý "Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng". Đó là sự ghi nhận đối với những cống hiến và hy sinh to lớn của mẹ cũng như gia đình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, mẹ sống cùng người con út là anh Nguyễn Văn Khiêm. Dù tuổi đã cao, mẹ vẫn giữ nếp sống giản dị, gần gũi và luôn quan tâm, động viên con cháu sống tốt, sống có trách nhiệm với cộng đồng. Gia đình mẹ nhiều năm liền đạt danh hiệu "Gia đình văn hóa", luôn gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương.
Đối với bà con ở phường Tịnh Biên, mẹ Nguyễn Thị Lựu không chỉ là một Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng mà còn là biểu tượng của ý chí, nghị lực và đức hy sinh của người phụ nữ Nam Bộ. Sau bao biến cố của cuộc đời, mẹ vẫn giữ nụ cười hiền hậu, sự chân chất và lòng bao dung với mọi người. Có lẽ vì thế mà mỗi khi nhắc đến mẹ, người dân nơi đây đều trìu mến gọi bằng một cái tên rất đỗi thân thương: "Mẹ Lựu – người phụ nữ giàu nghị lực."
Là thế hệ sinh ra trong hòa bình, tôi càng thấm thía rằng cuộc sống yên bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao hy sinh của những người mẹ như mẹ Nguyễn Thị Lựu. Mẹ không lập nên những chiến công vang dội, nhưng cả cuộc đời mẹ là bản hùng ca về lòng yêu nước, đức hy sinh và nghị lực phi thường. Những câu chuyện ấy sẽ luôn nhắc nhở thế hệ trẻ biết trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã cống hiến vì Tổ quốc và tiếp tục gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp mà các thế hệ cha anh đã để lại.


