MẸ NGUYỄN THỊ NGỌT
Có lẽ trên đời này, chẳng có cuộc đợi chờ nào dài bằng cuộc đợi chờ của một người mẹ. Người ta có thể đợi một chuyến đò, một mùa lúa chín, đợi một người đi xa trở về sau đôi ba năm cách biệt. Nhưng có những người mẹ đã đợi con suốt cả một đời, đợi đến khi tóc bạc, mắt mờ, đợi cả khi đất nước đã thôi tiếng súng mà ngoài ngõ vẫn chẳng thấy bóng dáng người thương. Tôi đã nghĩ rất lâu về điều ấy khi đọc câu chuyện của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt, người phụ nữ sinh năm 1910 tại ấp Long Công, xã Phú Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Cuộc đời mẹ kéo dài gần trọn một thế kỷ, đi qua hai cuộc kháng chiến và biết bao đổi thay của đất nước. Nhưng điều khiến tôi day dứt nhất không phải những năm tháng dài đằng đẵng ấy, mà là hình ảnh một người mẹ đứng trước cửa nhà trong ngày hòa bình, cứ nhìn mãi về phía con đường, mong những đứa con đã được báo tử biết đâu vẫn còn sống để trở về.
Mẹ Nguyễn Thị Ngọt vốn sinh ra trong một gia đình điền chủ khá giả ở vùng Phú Lộc. Thuở còn trẻ, mẹ là một cô gái được gia đình yêu thương, có lẽ cũng từng có những ước mơ rất đỗi bình thường như bao thiếu nữ khác. Năm hai mươi tuổi, mẹ kết hôn với ông Võ Văn Sanh, về làm dâu ở ấp Phú Hòa Yên, xã Song Phú. Từ một cô gái quen sống trong sự đủ đầy, mẹ trở thành người vợ, người dâu đảm đang, một tay vun vén việc nhà, chăm sóc gia đình. Rồi tám người con lần lượt ra đời, bảy trai và một gái. Tôi cứ hình dung căn nhà ngày ấy hẳn đã có những buổi chiều thật đông vui, khi lũ trẻ trở về sau những giờ chạy chơi, khi người mẹ tất bật lo bữa cơm cho cả nhà. Những hình dung ấy không phải điều sử sách ghi lại, nhưng tôi nghĩ, trước khi trở thành một biểu tượng của sự hy sinh, mẹ cũng đã từng có một mái ấm để yêu thương và gìn giữ, từng mong chồng con được sống bình yên như biết bao gia đình khác.
Thế rồi chiến tranh đã không để những mong ước giản dị ấy được vẹn nguyên. Năm 1946, khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, ông Võ Văn Sanh tham gia kháng chiến. Gánh nặng nuôi tám người con thơ dại đặt lên vai mẹ Ngọt. Một mình mẹ vừa lo việc đồng áng, chăm sóc gia đình, vừa trở thành hậu phương cho chồng yên tâm chiến đấu. Nhưng mẹ đâu chỉ góp sức cho cách mạng bằng việc chờ đợi và nuôi con. Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, mẹ còn trực tiếp nuôi chứa cán bộ, làm công tác giao liên, âm thầm góp sức vào cuộc đấu tranh giải phóng quê hương. Những công việc ấy nghe qua tưởng chừng giản dị, nhưng trong hoàn cảnh luôn bị địch theo dõi, mỗi lần che chở một cán bộ, mỗi chuyến chuyển tin đều có thể kéo theo hiểm nguy. Người con dâu của mẹ sau này kể lại rằng gia đình luôn phải sống trong vòng vây, sự dò xét của kẻ thù. Vậy mà mẹ vẫn kiên trì, vẫn gánh vác việc nhà, việc nước, như thể lòng yêu nước đã trở thành một điều tự nhiên trong cách mẹ sống.
Rồi những đứa con của mẹ lớn lên giữa thời loạn lạc. Sáu người con trai lần lượt nối bước cha tham gia kháng chiến. Có lẽ chẳng người mẹ nào tiễn con đi mà không lo sợ, nhất là khi ngoài kia bom đạn chẳng biết sẽ rơi xuống nơi nào. Nhưng mẹ Ngọt vẫn để các con lên đường. Tôi không muốn hình dung mẹ khi ấy là một người phụ nữ chỉ biết kiên cường, không biết yếu lòng. Bởi người mẹ nào mà chẳng thương con, chẳng muốn giữ con ở nhà, muốn chúng được ăn một bữa cơm no, ngủ một giấc yên lành. Có lẽ chính vì yêu con, yêu quê hương đến thế, mẹ mới chấp nhận để những đứa con mình mang nặng đẻ đau đi về phía hiểm nguy. Và cũng chính vì vậy, những mất mát về sau mới đau đớn đến nhường nào.
Trong những lời kể của người thân được Báo Vĩnh Long ghi lại, có một chi tiết khiến tôi nhớ mãi. Những người con trai của mẹ, dù đang tham gia chiến đấu, mỗi khi có dịp trở về vẫn tranh thủ làm việc nhà, làm ruộng, xúc tép, chặt củi giúp mẹ. Có người phải lén lút trở về từ những đám cây rậm để phụ mẹ giặm lúa. Chỉ là những việc nhỏ thôi, nhỏ đến mức nếu không có chiến tranh, có lẽ chẳng ai nghĩ chúng đáng để ghi vào một câu chuyện lịch sử. Vậy mà đọc đến đây, tôi thấy thương vô cùng. Bởi những người chiến sĩ ấy, khi trở về bên mẹ, vẫn chỉ là những đứa con. Họ có thể cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận, nhưng về đến nhà vẫn nhớ mẹ cần củi để nhóm bếp, cần người giúp việc đồng áng. Họ vẫn muốn làm một điều gì đó cho mẹ, dù chỉ trong những phút giây ít ỏi được trở về.
Thế nhưng những lần trở về ấy cứ thưa dần. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chồng mẹ cùng sáu người con trai đã lần lượt hy sinh. Bảy người thân yêu nhất, bảy cuộc đời từng cùng mẹ chia sẻ một mái nhà, cuối cùng đều nằm lại vì độc lập của Tổ quốc. Người ta thường nói về sự hy sinh bằng những con số, nhưng tôi nghĩ không một con số nào có thể diễn tả hết nỗi đau của một người mẹ. Sáu người con không chỉ là sáu liệt sĩ. Đó là sáu đứa trẻ mẹ từng bồng bế, sáu tiếng gọi mẹ từng nghe, sáu khuôn mặt mẹ đã nhìn từ thuở còn thơ cho đến ngày trưởng thành. Mỗi người con mất đi là một khoảng trống trong căn nhà, một đôi đũa không còn người cầm, một dáng hình không còn xuất hiện nơi cửa bếp. Có những nỗi đau không thể khóc cho hết, bởi khóc xong rồi, ngày mai người ta vẫn phải thức dậy, vẫn phải sống, vẫn phải nhìn vào những chỗ trống ấy mà đi qua từng ngày.
Người thân kể rằng vào những ngày giỗ chồng con, mẹ Ngọt tự tay chuẩn bị những món ăn như bánh xèo, cháo vịt. Khi được hỏi vì sao mẹ làm những món ấy, mẹ nhớ đến những người con năm xưa ít khi có dịp được ăn một bữa cơm nhà tử tế, mỗi lần trở về đều phải ăn vội, ăn lén vì hoàn cảnh chiến tranh. Tôi đọc đến đây mà thấy nghẹn. Hóa ra, sau ngần ấy năm, điều một người mẹ nhớ về con đôi khi chẳng phải những chiến công lớn lao, mà chỉ là chuyện chúng chưa được ăn ngon, chưa được ngồi yên bên mâm cơm gia đình. Những món ăn mẹ chuẩn bị trong ngày giỗ không thể khiến các con trở về, nhưng có lẽ đó là cách mẹ tiếp tục chăm sóc chúng, bằng tất cả những gì đôi bàn tay già nua còn có thể làm được. Người cháu trong gia đình còn nhớ những ngày ấy, mẹ ngồi trên bộ ván, ôm gối nhìn sáu di ảnh của các con đến quên ăn. Có lần, thấy những con rết bò trên bàn thờ, mẹ không cho ai đập, bởi mẹ nghĩ biết đâu các con đang trở về thăm mình. Một ý nghĩ nghe qua thật ngây ngô, nhưng sao mà đau lòng đến thế. Có lẽ khi nhớ thương đã chất chứa quá lâu, người ta chỉ cần một dấu hiệu nhỏ nhoi cũng muốn tin rằng người thân yêu vẫn đang ở đâu đó rất gần.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng. Chiến tranh kết thúc, những đoàn quân chiến thắng trở về trong niềm vui của hàng triệu người dân Việt Nam. Ở quê nhà, mẹ Ngọt cũng mong chờ. Theo hồi ức của bà Võ Thị Lệ, con gái mẹ, khi thấy bộ đội trở về đông đúc, hai mẹ con đã bỏ cả ăn để đứng ngóng. Mẹ vẫn hy vọng rằng biết đâu những tờ giấy báo tử đã nhầm, biết đâu các con vẫn còn sống. Tôi nghĩ, có lẽ mẹ hiểu hơn ai hết chiến tranh đã cướp đi những gì, nhưng hiểu là một chuyện, còn chấp nhận lại là một chuyện khác. Làm sao một người mẹ có thể thôi hy vọng khi ngoài đường vẫn còn những người lính trở về? Làm sao mẹ không nhìn thêm một lần nữa, không chờ thêm một ngày nữa, khi biết đâu giữa những gương mặt xa lạ ấy có một khuôn mặt mình đã nhớ đến mòn mỏi bao năm?
Hòa bình rồi, nhưng những đứa con của mẹ vẫn không về.
Và theo lời kể của gia đình, nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, mẹ vẫn thường ngóng ra cửa, mong một đứa con nào đó còn sống trở về. Tôi cứ nghĩ mãi về hình ảnh ấy. Ngoài kia, cuộc sống đã bắt đầu đổi khác. Người ta dựng lại nhà cửa, trở về ruộng vườn, những đứa trẻ sinh ra trong hòa bình lớn lên mà không còn biết tiếng bom rơi. Còn trong lòng mẹ, dường như vẫn có một phần thời gian dừng lại ở những buổi tiễn con năm cũ. Mẹ đã chờ qua chiến tranh, rồi lại chờ trong hòa bình. Một cuộc đợi chờ mà người ngoài có thể biết chắc kết cục, nhưng người mẹ thì không nỡ tự tay khép lại.
Điều khiến tôi càng kính trọng mẹ Nguyễn Thị Ngọt là sau tất cả những mất mát ấy, mẹ vẫn giữ một tấm lòng rộng lượng, luôn nghĩ cho người khác. Năm 1994, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ cũng được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất để ghi nhận những cống hiến và hy sinh to lớn. Khi địa phương dự định cấp cho mẹ một căn nhà tình nghĩa, mẹ đã từ chối, bởi mẹ cho rằng mình đã có nhà, trong khi vẫn còn nhiều người khác cần được giúp đỡ hơn. Tôi không biết một con người phải có tấm lòng như thế nào mới có thể nghĩ cho người khác sau khi cuộc đời mình đã chịu quá nhiều thiệt thòi. Nhưng có lẽ, đối với mẹ, sự hy sinh chưa bao giờ là điều để đòi hỏi được đền đáp. Mẹ đã sống vì gia đình, vì quê hương, rồi đến những năm tháng cuối đời vẫn không thôi nghĩ đến những người còn khó khăn.
Năm 1997, mẹ Nguyễn Thị Ngọt qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Ngày 20 tháng 12 năm 2018, công trình tượng Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt được khánh thành tại xã Phú Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Bức tượng được tạc từ khối đá granite, đứng trang nghiêm giữa quê hương như một lời tri ân dành cho người mẹ đã hiến dâng những gì quý giá nhất của đời mình cho đất nước. Nhưng tôi nghĩ, dù một bức tượng có được chạm khắc công phu đến đâu, vẫn thật khó để khắc họa hết cuộc đời mẹ. Làm sao tạc được những buổi chiều mẹ đứng ngóng con? Làm sao giữ lại trong đá hình ảnh mẹ ngồi trước sáu di ảnh, nhớ những đứa con ngày xưa chưa kịp ăn một bữa cơm nhà cho trọn vẹn? Có lẽ những điều ấy chỉ có thể được gìn giữ trong ký ức của người thân, trong những câu chuyện được kể lại, và trong lòng những thế hệ chưa từng đi qua chiến tranh như chúng tôi.
Tôi sinh ra khi đất nước đã hòa bình từ rất lâu. Tôi biết đến chiến tranh qua những trang sách lịch sử, những thước phim tư liệu, qua tên tuổi của những người anh hùng được nhắc đến trong các bài học. Có những lúc, thú thật, tôi đã đọc về sự hy sinh như đọc một điều gì đó rất xa xôi. Nhưng câu chuyện của mẹ Nguyễn Thị Ngọt khiến tôi hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm ở những trận đánh hay những ngày tháng được ghi trong sách. Lịch sử còn nằm trong một bữa cơm chưa kịp ăn, một cái nhìn ra cửa, một món ăn người mẹ vẫn nấu cho con vào ngày giỗ. Những điều bình thường ấy, khi đặt giữa chiến tranh, bỗng trở nên đau đáu và thiêng liêng đến lạ.
Có lẽ chúng ta không thể hiểu hết nỗi đau của những người mẹ đã tiễn chồng, tiễn con ra trận. Cũng không thể chỉ bằng vài lời tri ân mà bù đắp được những tháng năm họ đã mất. Nhưng ít nhất, chúng ta có thể nhớ. Nhớ rằng nền hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có, rằng phía sau mỗi người lính ngã xuống là một gia đình, một người mẹ, một mái nhà đã mãi mãi thiếu đi tiếng cười quen thuộc. Và nhớ rằng có những người phụ nữ như mẹ Nguyễn Thị Ngọt, đã âm thầm làm công tác cách mạng, nuôi giấu cán bộ, chăm lo cho chồng con ra trận, rồi dành phần đời còn lại để sống cùng những nỗi nhớ không bao giờ nguôi.
Tôi không biết trong những năm tháng cuối đời, mẹ đã bao nhiêu lần nhìn ra con đường trước nhà. Chỉ biết rằng các con mẹ đã không thể trở về, dù đất nước đã hòa bình. Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy những buổi chiều bình thường của mình trở nên đáng quý biết bao. Một tiếng gọi mẹ từ gian bếp, một bữa cơm có đủ người, một lần được trở về nhà sau ngày dài mệt mỏi — những điều nhỏ bé ấy từng là niềm mong mỏi suốt đời của biết bao người mẹ trong chiến tranh.
Mẹ Ngọt ơi, hòa bình rồi. Những đứa con của mẹ đã không trở về, nhưng đất nước mà họ yêu thương đã được sống những ngày yên bình. Và hôm nay, khi nhắc đến mẹ, cháu chỉ mong câu chuyện về cuộc đời mẹ sẽ còn được kể mãi, để chúng cháu biết thương hơn những gì mình đang có, biết cúi đầu trước những mất mát của thế hệ đi trước, và biết sống sao cho xứng đáng với những người đã chẳng thể trở về.



