Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng
Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của
hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Nguyễn Thị
Thứ (1904 - 2010, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện
Bàn, Quảng Nam) hiện lên như một tượng đài bất tử: chín người con trai,
hai cháu ngoại và một con rể ngã xuống vì độc lập, tự do, mười hai liệt sĩ
từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ. Tiếng ru của mẹ hòa trong bom
đạn, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc của mẹ là hiện
thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, di sản tinh thần
cần được gìn giữ và lan tỏa bằng hành động mỗi ngày.
Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm
thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên
duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười
hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh
cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói
lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia
nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải
khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà
mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ
ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau,
người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng
tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn.
Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi
mới vừa tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ
mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự
Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong
ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng
Sài Gòn tiến đến hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm
1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy
sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn
toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra
tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và
Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và
1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa
sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt
nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin
yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi
căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.
Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu
phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn
hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn
tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích.
Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to
như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay,
hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá,
ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn
dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế.
Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư
cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời
nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.
Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa
ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đỏ
lửa 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi,
tỉnh lại liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”.
Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tổ quốc ghi công kê
kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến
viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng”. Năm 1998, phóng viên
Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất bốn,
năm người?”. Mẹ điềm đạm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn
giặc thì còn đi”. Câu trả lời khiến vị khách cúi đầu xin lỗi, bởi ông hiểu sự
hy sinh phi thường mà chiến tranh áp đặt lên một người mẹ Việt Nam.
Quốc gia không bao giờ quên những người đã cho đi tất cả. Tháng 7
1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam
Anh hùng cho mẹ Thứ. Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên
núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công, lấy nguyên mẫu gương mặt mẹ; khối đá
hoa cương dài 120 m, cao 18,6 m, xác lập kỷ lục ASEAN. Con đường
“Mẹ Thứ” ở thị trấn Vĩnh Điện ngày ngày rộn tiếng trẻ tới trường. Ngày 10
12 2010, mẹ về với đất ở tuổi 106. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ
bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa.
Khói hương quyện gió, song tinh thần mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa
bình của từng người con xứ Quảng.
Ảnh: Tư liệu
Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, cán bộ, giảng viên, học viên,
quân nhân tại Học viện Lục quân luôn soi mình vào tấm gương bất tử của
mẹ Nguyễn Thị Thứ. Từ bục giảng đến thao trường, từ nghiên cứu khoa
học đến rèn luyện thể lực, mỗi người đều thấm nhuần một điều thiêng
liêng: sống, học tập, chiến đấu sao cho xứng đáng với máu xương mà mẹ
và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng. Quân nhân tại Học viện
Lục quân hôm nay không chỉ là người cầm súng nơi tuyến đầu, mà còn là
chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, vũ khí
thông minh, trí tuệ nhân tạo. Nhưng trước hết, họ phải rèn cho mình
phẩm chất trung thành, chính trực, kỷ luật và nhân ái, như chính mẹ từng
sống, từng nuôi quân, từng giữ lửa cho kháng chiến. Học viện Lục quân
lấy phương châm “đức - trí - dũng - nhân” làm kim chỉ nam, đào tạo
những quân nhân không chỉ giỏi tác chiến mà còn có tâm hồn lớn. Trong
mỗi buổi dã ngoại, giữa đêm thao luyện, giảng viên nhắc về mẹ Thứ như
ngọn đuốc soi đường: “Một người mẹ nông dân đã nuôi cả sư đoàn, thì
các anh càng phải biết nâng niu từng tấc đất quê hương”.
Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và
nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng
cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà
phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say,
dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên,
chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ
thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy
nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ
vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô
phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân
bắn đều là hạt giống hòa bình. Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ
trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương,
như lời mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy
bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là
mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt
hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng
máu và tình yêu vô hạn.


