Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng

Ninh Bình07/05/2026Lưu Vy Vy (Đoàn trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của

hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Nguyễn Thị

Thứ (1904 - 2010, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện

Bàn, Quảng Nam) hiện lên như một tượng đài bất tử: chín người con trai,

hai cháu ngoại và một con rể ngã xuống vì độc lập, tự do, mười hai liệt sĩ

từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ. Tiếng ru của mẹ hòa trong bom

đạn, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc của mẹ là hiện

thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, di sản tinh thần

cần được gìn giữ và lan tỏa bằng hành động mỗi ngày.

Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm

thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên

duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười

hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh

cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói

lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia

nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải

khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà

mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ

ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau,

người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng

tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn.

Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi

mới vừa tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ

mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự

Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong

ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng

Sài Gòn tiến đến hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm

1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy

sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn

toàn thống nhất.

Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra

tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và

Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và

1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa

sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt

nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin

yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi

căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.

Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu

phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn

hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn

tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích.

Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to

như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay,

hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá,

ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn

dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế.

Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư

cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời

nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.

Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa

ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đỏ

lửa 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi,

tỉnh lại liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”.

Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tổ quốc ghi công kê

kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến

viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng”. Năm 1998, phóng viên

Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất bốn,

năm người?”. Mẹ điềm đạm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn

giặc thì còn đi”. Câu trả lời khiến vị khách cúi đầu xin lỗi, bởi ông hiểu sự

hy sinh phi thường mà chiến tranh áp đặt lên một người mẹ Việt Nam.

Quốc gia không bao giờ quên những người đã cho đi tất cả. Tháng 7

1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam

Anh hùng cho mẹ Thứ. Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên

núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công, lấy nguyên mẫu gương mặt mẹ; khối đá

hoa cương dài 120 m, cao 18,6 m, xác lập kỷ lục ASEAN. Con đường

“Mẹ Thứ” ở thị trấn Vĩnh Điện ngày ngày rộn tiếng trẻ tới trường. Ngày 10

12 2010, mẹ về với đất ở tuổi 106. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ

bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa.

Khói hương quyện gió, song tinh thần mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa

bình của từng người con xứ Quảng.

Ảnh: Tư liệu

Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, cán bộ, giảng viên, học viên,

quân nhân tại Học viện Lục quân luôn soi mình vào tấm gương bất tử của

mẹ Nguyễn Thị Thứ. Từ bục giảng đến thao trường, từ nghiên cứu khoa

học đến rèn luyện thể lực, mỗi người đều thấm nhuần một điều thiêng

liêng: sống, học tập, chiến đấu sao cho xứng đáng với máu xương mà mẹ

và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng. Quân nhân tại Học viện

Lục quân hôm nay không chỉ là người cầm súng nơi tuyến đầu, mà còn là

chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, vũ khí

thông minh, trí tuệ nhân tạo. Nhưng trước hết, họ phải rèn cho mình

phẩm chất trung thành, chính trực, kỷ luật và nhân ái, như chính mẹ từng

sống, từng nuôi quân, từng giữ lửa cho kháng chiến. Học viện Lục quân

lấy phương châm “đức - trí - dũng - nhân” làm kim chỉ nam, đào tạo

những quân nhân không chỉ giỏi tác chiến mà còn có tâm hồn lớn. Trong

mỗi buổi dã ngoại, giữa đêm thao luyện, giảng viên nhắc về mẹ Thứ như

ngọn đuốc soi đường: “Một người mẹ nông dân đã nuôi cả sư đoàn, thì

các anh càng phải biết nâng niu từng tấc đất quê hương”.

Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và

nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí

Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng

cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà

phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say,

dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên,

chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ

thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy

nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ

vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô

phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân

bắn đều là hạt giống hòa bình. Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ

trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương,

như lời mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy

bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là

mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt

hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng

máu và tình yêu vô hạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn