Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ NGUYỄN THỊ THỨ – BIỂU TƯỢNG VĨNH CỬU CỦA ĐỨC HY SINH VÀ LÒNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

Đà Nẵng14/10/2026Lâm Thuỳ Linh (Đại học Sư phạm Hà Nội 2)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

MẸ NGUYỄN THỊ THỨ – BIỂU TƯỢNG VĨNH CỬU CỦA ĐỨC HY SINH VÀ LÒNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

I. CỘI NGUỒN XỨ QUẢNG VÀ GIA PHONG TRÊN MẢNH ĐẤT ĐIỆN BÀN

1.1. Chân dung Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ

Trong dòng chảy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có biết bao thế hệ đã ngã xuống nơi chiến trường khốc liệt, dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân và máu xương cho độc lập, tự do. Phía sau những chiến công hiển hách ấy là bóng hình lặng lẽ của những người mẹ Việt Nam- những người đã âm thầm tiễn chồng, tiễn con ra trận, rồi nén đau thương vào lòng để tiếp tục làm hậu phương vững chắc.

Trong số hàng triệu bà mẹ kiên trung ấy, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010), quê tại xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng), đã trở thành một biểu tượng bất tử. Cuộc đời của Mẹ là hiện thân sinh động và trọn vẹn nhất cho đức hy sinh vô bờ bến, lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XX.

1.2. Mối lương duyên và gánh nặng gia đình

Năm 1922, ở tuổi 18 – độ tuổi đẹp nhất của đời người, Mẹ kết hôn cùng ông Lê Tự Trị (thường gọi là thầy Chín Trị), một thầy thuốc Nam đức độ, giàu lòng yêu nước. Trong hơn hai mươi năm sau đó, Mẹ sinh được 12 người con (11 con trai và 1 con gái).

Trong bối cảnh xã hội nửa phong kiến thuộc địa ngập tràn gian khó, việc nuôi dạy đàn con đông đúc là thử thách cực kỳ khắc nghiệt. Đôi vai gầy của Mẹ vừa phải tảo tần gánh vác việc đồng áng để lo từng bữa ăn, manh áo cho các con, vừa làm hậu phương vững chắc cho chồng yên tâm bốc thuốc cứu người và tham gia hoạt động cách mạng bí mật.

II. SỰ MẤT MÁT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

2.1. Tiếng gọi của non sông và những lượt tiễn đưa

Mùa thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công đem lại tự do cho dân tộc. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày tay, thực dân Pháp quay lại xâm lược. Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến năm 1946, các người con trai của Mẹ ở độ tuổi mười chín, đôi mươi tràn đầy nhiệt huyết đã gạt tình riêng, lần lượt gia nhập Vệ quốc đoàn và du kích địa phương.

Người con trai đầu lòng Lê Tự Xiến bước chân ra đi đầu tiên, mang theo lời dặn dò đằm thắm của Mẹ: "Đi đánh Tây, khi nào nước nhà độc lập thì về với Mẹ". Tiếp sau anh Xiến, các anh Lê Tự Hàn Anh và Lê Tự Hàn Em cũng tiếp bước lên đường. Căn nhà tranh vắng dần tiếng cười nói, chỉ còn Mẹ cùng người chồng già ngày ngày dõi theo tin tức chiến trường.

2.2. Nỗi đau nén chặt vào lòng

Chiến sự diễn ra tàn khốc trên mảnh đất Liên khu 5. Và rồi, những tin báo tử dồn dập dội về mái nhà tranh. Chỉ trong vòng hai năm, ba người con trai lớn của Mẹ đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Mỗi lần nhận tin dữ là một lần khúc ruột Mẹ như bị cắt đứt. Nhưng biến nỗi đau thành sức mạnh, Mẹ lặng lẽ nuốt giọt nước mắt chảy ngược vào tim, tiếp tục nuôi giấu cán bộ, đào hầm bí mật và tiếp tế cho bộ đội ngay trong lòng địch.

III. ĐỈNH CAO HY SINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

3.1. Vững vàng qua giai đoạn đen tối

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, miền Nam rơi vào ách thống trị tàn bạo của chế độ ngụy quyền. Vùng đất Điện Bàn trở thành trọng điểm bình định. Là "gia đình cộng sản cốt cán", nhà Mẹ bị theo dõi sát sao. Mẹ Thứ và ông Chín Trị nhiều lần bị địch bắt bớ, tra khảo dã man. Nhưng trước kẻ thù, Mẹ vẫn giữ ánh mắt bình thản, kiên định cùng câu nói đập tan mọi nghi vấn: "Tôi chỉ biết làm ruộng nuôi con, không biết gì hết".

Lớp anh ngã xuống, lớp em lại đứng lên. Các người con tiếp theo của Mẹ- Lê Tự Lem, Lê Tự Nự, Lê Tự Mười, Lê Tự Trịnh, Lê Tự Thịnh, Lê Tự Chuyển- lại nối tiếp bước chân các anh, dấn thân vào con đường cách mạng.

3.2. Chuỗi bi kịch dồn dập và những vành khăn tang chồng chất

Giai đoạn 1965–1975, Quảng Nam trở thành "vành đai diệt Mỹ" khốc liệt. Đây cũng là thời kỳ thử thách đến tận cùng sức chịu đựng của Mẹ. Những vành khăn tang cứ liên tiếp chồng chất lên mái đầu bạc trắng. Lần lượt 9 người con trai của Mẹ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Không dừng lại ở đó, Mẹ còn phải gánh chịu nỗi đau mất đi người con rể Ngô Tường và hai cháu ngoại (Ngô Thị Điểu và Ngô Thị Cúc- anh hùng giao liên hy sinh khi mới 18 tuổi).

Chín người con ra đi, không một ai trở về vẹn toàn.

Nỗi đau quá lớn khiến nước mắt Mẹ cạn khô. Người dân địa phương kể lại, Mẹ thường ngồi lặng thinh bên bậc cửa, đôi mắt thâm quầng nhìn vào khoảng không vô định, run rẩy đếm đi đếm lại những kỷ vật của các con.

IV. CĂN NHÀ HUYỀN THOẠI VÀ TRẬN TUYẾN TRONG LÒNG ĐẤT

4.1. Năm căn hầm bí mật ở làng Thanh Quýt

Căn nhà nhỏ của Mẹ không chỉ là nơi lưu giữ những nỗi đau, mà còn là một pháo đài cách mạng kiên cường. Ngay trong khu vườn quanh nhà, Mẹ Thứ cùng con gái Lê Thị Trị đã âm thầm đào 5 căn hầm bí mật dưới gốc cây, đống rơm, bếp củi.

Việc đào hầm diễn ra trong đêm tối tăm tối, đất đào được đem rải xuống sông Thanh Quýt để xóa dấu vết. Suốt nhiều năm, những căn hầm này là nơi trú ẩn an toàn cho hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ. Dù lính Mỹ-ngụy sục sạo ngay trên mặt đất, các chiến sĩ bên dưới vẫn an toàn nhờ sự che chở của Mẹ.

4.2. Mệnh lệnh từ trái tim người Mẹ

Mẹ vừa là người nuôi dưỡng, vừa là "trạm rao tin" sống cho cách mạng. Nhai trầu thong thả trước hiên hay giặt áo bên giếng là tín hiệu an toàn; một tiếng ho lớn hay tiếng gọi gà cố tình cất cao là lời cảnh báo nguy hiểm để các chiến sĩ giữ im lặng dưới lòng đất.

V. NGÀY CHIẾN THẮNG VÀ SỰ TÔN VINH VĨNH CỬU

5.1. Ngày 30/4/1975: Ngày đại thắng và khoảng trống cô đơn

Mùa xuân 1975, đất nước thu về một mối. Trong tiếng reo hò vỡ òa của dân tộc ngày khải hoàn, Mẹ mừng vì đất nước đã sạch bóng thù, nhưng lòng Mẹ lại hẫng hẫng một khoảng trống vô tận. Ngày chiến thắng, chín người con trai của Mẹ không một ai trở về để ôm lấy bờ vai gầy của Mẹ.

Trên bàn thờ khói hương nghi ngút là chín tấm bằng Tổ quốc ghi công. Mẹ nhìn di ảnh các con- những gương mặt mãi mãi dừng lại ở tuổi mười chín, đôi mươi- mà nước mắt tràn qua từng nếp nhăn đồi mồi. Giọt nước mắt ấy vừa kết tinh từ sự tự hào vô bờ, vừa xót xa cho sự cô đơn vĩ đại của một người mẹ đã dâng hiến tất cả cho Tổ quốc.

5.2. Tượng đài trong lòng nhân dân

Ngày 17/12/1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trong đợt đầu tiên.

Hình ảnh Mẹ Thứ đã trở thành cảm hứng cho công trình Quần thể Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tại đỉnh núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam)- tượng đài về người mẹ lớn nhất Đông Nam Á. Tượng đài khắc họa hình ảnh Người Mẹ dang rộng vòng tay che chở, từ trong lòng Mẹ dòng nước mát chảy ra, biểu tượng cho nguồn sữa mẹ thiêng liêng nuôi dưỡng các thế hệ anh hùng.

5.3. Trở về với đất mẹ

Lúc 01 giờ 40 phút ngày 10/12/2010, Mẹ Nguyễn Thị Thứ tạ thế, hưởng thọ 106 tuổi. Mẹ ra đi thanh thản, khép lại hành trình một thế kỷ đầy gian truân nhưng chói lọi vinh quang. Mẹ được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Điện Bàn, nằm bên cạnh những người con thân yêu.

VI. TRIẾT LÝ SÂU SẮC VÀ GIÁ TRỊ TẠO DỰNG CHO THẾ HỆ MAI SAU

6.1. Triết lý về sự hy sinh và sức mạnh của tình mẫu tử

Cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thứ gửi gắm một triết lý nhân sinh sâu sắc: Sức mạnh vĩ đại nhất không nằm ở vũ khí, mà nằm ở lòng vị tha và tình yêu Tổ quốc của người Mẹ.

Sự hy sinh của Mẹ không phải là sự gượng ép, mà là sự dấn thân tự nguyện xuất phát từ bản năng bảo vệ quê hương. Mẹ đã đánh đổi hạnh phúc cá nhân, chấp nhận nỗi đau đứt ruột để đổi lấy tự do cho dân tộc. Qua đó, Mẹ khẳng định một sự thật vĩnh hằng: Độc lập của dân tộc được đánh đổi bằng nước mắt và sự thầm lặng của những người mẹ.

6.2. Bài học cho thế hệ hôm nay

Đối với thế hệ hôm nay và mai sau, câu chuyện về Mẹ Thứ là bài học lịch sử vô giá bằng xương bằng máu. Mẹ nhắc nhở chúng ta về giá trị đắt giá của hòa bình, về từng tấc đất tự do đang sống hằng ngày. Hình tượng Mẹ chính là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, thúc đẩy thế hệ trẻ sống trách nhiệm hơn, nỗ lực học tập và cống hiến để xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến của các bậc tiền nhân

 

Nguồn tài liệu tham khảo:

1. Báo điện tử Quân đội nhân dân

2. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

3. Hồ sơ di sản và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
MẸ NGUYỄN THỊ THỨ – BIỂU TƯỢNG VĨNH CỬU CỦA ĐỨC HY SINH VÀ LÒNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM | Câu chuyện thời hoa lửa