Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Tượng đài bất tử của người Mẹ Việt Nam anh hùng

Tây Ninh01/06/2026Lâm Nhã Thy (THCS Tiên Thuận)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy thăng trầm của lịch sử dân tộc, có những cuộc đời vĩ đại tựa như một bản hùng ca lặng lẽ, kết tinh cả nỗi đau và niềm tự hào của đất nước. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ chính là một tượng đài như thế. Sinh năm 1904 và rời cõi tạm vào ngày 10 tháng 12 năm 2010, đại thọ 106 tuổi, Mẹ không chỉ là nhân chứng kiên cường vắt qua hai thế kỷ mà còn là biểu tượng vĩnh hằng của người mẹ Việt Nam, của đức hy sinh, lòng yêu nước và ý chí kiên trung bất khuất.

Quê hương của Mẹ ở xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Năm 18 tuổi, thiếu nữ nghèo ấy gá nghĩa cùng ông Lê Tự Trị mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cái nghèo đồng cảm với cái nghèo, họ gắn kết với nhau trong cảnh cơ hàn và sinh hạ được 12 người con gồm 11 trai, 1 gái. Trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa đạn bom, vợ chồng Mẹ cùng con gái đầu vẫn kiên cường bám trụ lại xóm làng, "một tấc không đi một ly không rời" theo cách mạng. Đêm đêm, hai vợ chồng vừa xay lúa giã gạo đóng góp nuôi quân, vừa bảo vệ 5 căn hầm bí mật đào ngay trong khu vườn nhà rợp bóng cây. Để đánh lừa địch, Mẹ nuôi hàng chục con bò làm bình phong ngụy trang. Khi an toàn, Mẹ hé mở cửa hầm cho các anh dễ thở; hễ có động, Mẹ lại giả vờ dắt bò cắt cỏ để che chắn miệng hầm. Tình thương của Mẹ còn thể hiện qua sự chăm chút tỉ mỉ: mỗi lần cán bộ từ dưới hầm đi lên làm nhiệm vụ trừ gian diệt ác, Mẹ luôn làm sẵn một thau lá rau lang giã nhỏ trộn với lọ nồi để các anh bôi mặt ngụy trang.

Lặng lẽ chở che cách mạng, Mẹ cũng lặng lẽ gánh chịu những nỗi đau xé ruột khi tiễn các con ra chiến trường không ngày trở lại. Bi kịch ập xuống từ ngày 18 tháng 6 năm 1948, khi người con trai thứ hai là chiến sĩ giao liên Lê Tự Xuyến bị giặc Pháp bắn hy sinh ngay tại đầu làng. Nước mắt chưa kịp vơi, ngày 5 tháng 10 năm 1948, anh Lê Tự Hàn (anh) ngã xuống khi làm nhiệm vụ tải thương, và chỉ 10 ngày sau (15 tháng 10 năm 1948), anh Lê Tự Hàn (em) cũng hy sinh trong một trận chống càn. Mất mát dồn dập, đến ngày 1 tháng 4 năm 1954, người con trai Lê Tự Lem vừa tròn 20 tuổi lại hy sinh lúc chiến đấu với giặc. Chỉ trong vòng 6 năm, Mẹ mất 4 người con thân yêu. Nén nỗi đau thành ngọn lửa cách mạng, Mẹ vẫn bền lòng động viên những đứa con còn lại lên đường.

Thế rồi, nấm mộ này cỏ chưa lên xanh, Mẹ lại phải đắp thêm nấm mộ mới. Ngày 5 tháng 9 năm 1966, con trai Lê Tự Nự - đội viên du kích xã - hy sinh. Năm 1972, Mẹ quặn thắt nhận tin anh Lê Tự Mười hy sinh (ngày 14 tháng 4 tại Tây Nguyên) và anh Lê Tự Trịnh hy sinh (ngày 12 tháng 9 ngay tại làng). Ngày 28 tháng 8 năm 1974, người con Lê Tự Thịnh - Đại đội trưởng bộ đội huyện Duy Xuyên - ngã xuống trong một trận công đồn. Đỉnh điểm của khúc tráng ca bi ai là đúng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, người con cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn - đã ngã xuống ngay trên cầu Rạch Chiếc, trút hơi thở cuối cùng chỉ trước vài giờ khi non sông thu về một mối. Trái tim người Mẹ vỡ vụn khi 9 người con trai đã ngã xuống vì Tổ quốc. Chưa dừng lại ở đó, con rể Mẹ là Ngô Tường bị địch bắt năm 1956, tra tấn dã man đến kiệt sức và tử vong. Hai cô cháu ngoại là Ngô Thị Điểu và Ngô Thị Cúc cũng lần lượt hy sinh vào tháng 8 năm 1970 và năm 1973. Gia đình Mẹ đã hiến dâng trọn vẹn với 12 liệt sĩ ngã xuống vì bình yên non nước.

Phía sau sự hy sinh nhói lòng ấy là một sức mạnh phi thường. Hằng đêm, Mẹ thắp ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Khắc khoải nhớ thương núm ruột của mình, mỗi dịp Lễ Tết hay ngày Thương binh Liệt sĩ, Mẹ lại lọ dọ chống gậy thắp 9 ngọn nến, 9 nén hương, xếp 9 cái bát, 9 đôi đũa bên mâm cơm để gọi các con về. Đại tá Trần Hồng đã chớp được bức ảnh khoảnh khắc nghẹn ngào ấy vào năm 2001, khi Mẹ xót xa đợi chờ và thầm tin rằng: "9 thằng chắc chắn có một thằng về với tôi, chắc chắn thế". Đặc biệt, vào năm 1998, khi một nhà báo, cựu chiến binh Hàn Quốc sững sờ thắc mắc vì sao Mẹ vẫn động viên con ra trận khi đã tử trận quá nhiều, Mẹ Thứ điềm tĩnh và đanh thép trả lời: "Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là 'Không có gì quý hơn độc lập tự do' nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu... Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận". Lời khẳng định ấy đã khiến người cựu binh nước ngoài rưng rưng nước mắt, cúi gập người xin lỗi Mẹ.

Khi bước vào tuổi 80, đôi mắt Mẹ đã mù lòa, Mẹ rời quê chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân. Mẹ trút hơi thở cuối cùng vào lúc 1 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2010. Khép lại một thế kỷ trầm luân và vĩ đại, Mẹ đã về đoàn tụ cùng chồng và các con liệt sĩ. Nhưng sự hy sinh vô bờ bến của Mẹ đã hóa thành bất tử. Hình bóng vĩ đại ấy đã trở thành nguyên mẫu cho Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất nước, sừng sững trên núi Cấm, tỉnh Quảng Nam. Di sản tinh thần Mẹ để lại không chỉ là 12 tấm bằng Tổ quốc ghi công rực đỏ trên vách tường đơn sơ, mà là linh hồn của đất nước, là suối nguồn bao la tiếp thêm sức mạnh cho muôn đời sau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn