“MẸ NGUYỄN THỊ THỨ – TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ CỦA SỰ HY SINH”
Mẹ Nguyễn Thị Thứ là biểu tượng thiêng liêng và vĩ đại nhất của người Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ có 9 người con đẻ, 1 người con rể và 2 người cháu ngoại đã anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Hình ảnh Mẹ với những nếp nhăn hằn sâu nỗi đau mất con nhưng kiên cường bám trụ cùng cách mạng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận, là nguyên mẫu để xây dựng Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, truyền ngọn lửa yêu nước cho muôn đời sau.
Hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca rực rỡ những chiến công, nhưng cũng thẫm đẫm máu và nước mắt. Để Tổ quốc được trọn vẹn hình hài, để bầu trời ngày hôm nay ngập tràn ánh nắng của tự do và hòa bình, đất nước ta đã phải đánh đổi bằng sinh mạng của hàng triệu người con ưu tú. Thế nhưng, đằng sau sự ngã xuống của những người anh hùng nơi tiền tuyến, còn có một sự hy sinh vô bờ bến, thầm lặng mà vĩ đại đến tột cùng ở hậu phương – đó là sự hy sinh của những Bà mẹ Việt Nam. Trong vô vàn những tấm gương chói lọi ấy, câu chuyện về Mẹ Nguyễn Thị Thứ luôn để lại trong em sự ám ảnh, niềm xót xa và cả một sự kính phục sâu sắc không thể diễn tả bằng lời.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – một vùng đất miền Trung nghèo khó, quanh năm làm bạn với nắng cháy mưa chan, nhưng lại giàu truyền thống yêu nước, "trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ". Cả cuộc đời Mẹ gắn liền với lũy tre làng, với đồng ruộng và sự lam lũ vất vả để nuôi đàn con khôn lớn. Trong bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân và đế quốc, cũng như bao người phụ nữ Việt Nam khác, Mẹ mang trong mình một lòng yêu nước nồng nàn và một niềm tin mãnh liệt vào ngày mai độc lập.
Tình yêu nước của Mẹ không thể hiện qua những lời hô hào đao to búa lớn, mà được chứng minh bằng chính khúc ruột đứt đoạn của mình. Trong suốt những năm tháng khói lửa ác liệt của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Mẹ đã tự tay sửa soạn hành trang, động viên và tiễn lần lượt 9 người con trai thân yêu rời vòng tay Mẹ để bước ra chiến trường. Những người con của Mẹ ra đi mang theo lời thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, và rồi, cả 9 anh đều không một ai trở về.
Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh? Lần thứ nhất nhận giấy báo tử, tim Mẹ như thắt lại. Lần thứ hai, thứ ba, nước mắt Mẹ tuôn rơi lấm lem khuôn mặt sạm nắng. Nhưng rồi đến lần thứ bảy, thứ tám, và thứ chín, nước mắt Mẹ dường như đã lặn vào trong, khô cạn đi vì những mất mát quá sức chịu đựng đối với một con người. Không chỉ mất đi 9 người con trai rứt ruột đẻ ra, chiến tranh tàn khốc còn cướp đi của Mẹ 1 người con rể và 2 người cháu ngoại. Mười hai lần nhận giấy báo tử, mười hai mảnh tang trắng quấn ngang đầu, giông bão cuộc đời đã đổ ập xuống đôi vai gầy guộc của người mẹ miền Trung ấy. Hình ảnh khiến em rưng rưng nước mắt mỗi khi nhắc đến là mâm cơm cúng ngày giỗ chung trong căn nhà nhỏ của Mẹ. Một mâm cơm với 9 chiếc bát, 9 đôi đũa xếp ngay ngắn, Mẹ ngồi đó, đôi mắt mờ đục nhìn xa xăm, gọi tên từng đứa con trong niềm nghẹn ngào khôn tả.
Thế nhưng, điều khiến thế hệ trẻ chúng em cúi đầu khâm phục không chỉ là sức chịu đựng nỗi đau tột cùng, mà còn là bản lĩnh kiên cường, bất khuất của Mẹ. Đau thương tột độ không làm Mẹ gục ngã hay lùi bước, mà ngược lại, càng nung nấu trong Mẹ ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc. Mẹ hiểu rằng, các con của Mẹ đã ngã xuống vì nghĩa lớn, thì Mẹ phải sống và tiếp tục chiến đấu để sự hy sinh ấy không trở nên vô nghĩa. Ngay tại khu vườn nhà mình ở Điện Bàn, dưới mũi súng và sự dòm ngó gắt gao của kẻ thù, Mẹ cùng cô con gái cả (Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Trị) đã bí mật đào 5 căn hầm để nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng.
Những đêm ròng rã trời mưa rả rích hay những ngày nắng gắt, bóng dáng gầy gò của Mẹ vẫn lặng lẽ thức trắng để canh gác. Mẹ chắt chiu từng lon gạo, từng củ khoai, củ sắn để tiếp tế cho bộ đội dưới hầm bí mật. Đã có những lúc địch càn quét, lùng sục gắt gao, chúng tra tấn tinh thần, dọa nạt, nhưng Mẹ Thứ vẫn giữ một lòng kiên trung sắt đá, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cán bộ. Mẹ đã lấy thân hình mỏng manh của mình làm lá chắn, biến tình mẫu tử thiêng liêng thành tình yêu bao la ôm trọn lấy những người đồng chí, đồng đội của các con mình.
Năm 1994, Đảng và Nhà nước ta đã vinh danh Mẹ với danh hiệu cao quý: Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ đã sống trọn vẹn một thế kỷ, chứng kiến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Mẹ đã sống thay phần của những người con đã ngã xuống, để nhìn ngắm đất nước hồi sinh từ đống tro tàn của chiến tranh. Năm 2010, Mẹ thanh thản trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 106 tuổi, về với cõi vĩnh hằng để đoàn tụ cùng những người con thân yêu.
Ngày nay, tại núi Cấm (thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng được xây dựng vô cùng kỳ vĩ, lấy nguyên mẫu từ chính khuôn mặt của Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Bức tượng đài mang dáng hình một người Mẹ đang dang rộng vòng tay ôm trọn những đứa con vào lòng, vươn lên từ mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Tượng đài ấy không chỉ là công trình nghệ thuật, mà là biểu tượng bất tử của sự hy sinh vĩ đại, lòng vị tha và tình yêu Tổ quốc bao la của những người Phụ nữ Việt Nam.
Sự hy sinh của Mẹ để lại cho em – một bài học vô giá về lẽ sống và trách nhiệm. Lòng yêu nước trong thời bình không nhất thiết phải là xông pha nơi hòn tên mũi đạn, mà là sự nỗ lực không ngừng nghỉ trong học tập, lao động và rèn luyện. Tình yêu nước thể hiện qua việc chúng em biết trân trọng lịch sử, sống có trách nhiệm với gia đình, có ý thức cống hiến tri thức của mình để xây dựng quê hương, đất nước.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã đi xa, nhưng bóng dáng vĩ đại của Mẹ vẫn in đậm trong tâm trí của hàng triệu người dân Việt Nam. Câu chuyện về mười hai tấm bằng Tổ quốc ghi công trong căn nhà nhỏ của Mẹ sẽ mãi là một khúc tráng ca bất diệt, nhắc nhở thế hệ thanh niên chúng em về một thời đạn bom bi tráng, về cái giá của độc lập tự do. Mẹ chính là bức tượng đài bất tử, là ngọn lửa thiêng liêng sưởi ấm và soi đường cho lớp lớp thanh niên Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường bảo vệ và kiến thiết nước nhà.


