Mẹ Nguyễn Thị Thứ: Tượng đài tạc bằng máu, nước mắt và dáng hình Tổ quốc
Hơn cả một chứng nhân lịch sử, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (Quảng Nam) là hiện thân cội nguồn sức mạnh và nỗi đau vô tận của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Với 9 người con ruột, 1 con rể và 2 cháu ngoại nằm lại chiến trường, cuộc đời Mẹ là một bản trường ca bi tráng nhất về sự hy sinh thầm lặng, đổi lấy màu xanh hòa bình cho dáng hình đất nước.
Nhà văn I. Ê-ren-bua từng chiêm nghiệm: "Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất...". Nhưng ở chính dải đất hình chữ S này, lòng yêu nước thiêng liêng ấy còn được nhào nặn từ máu, nước mắt và sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ. Đi qua hai cuộc trường chinh rực lửa, hình tượng Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ không chỉ là một chứng nhân lịch sử, mà đã hóa thành một tượng đài bất tử, âm nốt bi tráng nhất trong bản trường ca giữ nước của dân tộc.
Sinh năm 1904 tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), Mẹ Thứ mang trọn vẻ đẹp nhẫn nại, tần tảo của người phụ nữ miền Trung. Mẹ chắt chiu từng củ khoai, hạt lúa nuôi đàn con khôn lớn trong nếp nhà tranh xiêu vẹo. Nhưng khi sơn hà nguy biến, Mẹ nuốt nước mắt vào trong, lần lượt tiễn từng núm ruột ra chiến trường với lời thề sinh tử. Có nỗi đau nào giằng xé tột cùng bằng nghịch cảnh "tóc bạc tiễn kẻ đầu xanh"? Trong suốt hai cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mỹ, Mẹ đã chín lần nhận giấy báo tử của các con trai. Bi kịch ấy còn chồng chất khi người con rể và hai người cháu ngoại (con của Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Trị) cũng vĩnh viễn nằm lại nơi chiến địa. Mười hai sinh mệnh thân yêu nhất hóa thân vào đất mẹ. Chín lần tiễn con đi là chín lần Mẹ nuốt ngược dòng lệ, lấy lý tưởng giải phóng dân tộc để khỏa lấp đi những vụn vỡ đớn đau nơi cõi lòng.
Vượt lên trên bi kịch cá nhân, sự vĩ đại của Mẹ Thứ tỏa sáng rực rỡ ngay tại tuyến đầu hậu phương. Ngay trong khu vườn nhà, Mẹ cùng người con gái cả đã đào năm căn hầm bí mật. Mặc cho mũi súng kẻ thù rình rập, Mẹ vẫn thức trắng những đêm dài nhường cơm sẻ áo, canh gác và che chở cho hàng chục cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Mẹ vĩnh viễn mất đi những người con dứt ruột đẻ ra, nhưng lại mở rộng vòng tay ôm trọn hàng vạn người lính vào lòng. Tình mẫu tử sinh học lúc này đã thăng hoa thành tình yêu đồng bào, yêu Tổ quốc — một thứ tình cảm mang tầm vóc vĩ đại như hình ảnh "Bầm" trong thơ Tố Hữu: "Bầm ơi có mịn nước xương / Bầm xào dưa muối, bầm thương con nhiều". Bát cơm Mẹ nấu, bóng râm Mẹ che chở đã trở thành điểm tựa tâm hồn vững chắc cho những bước chân tiền tuyến.
Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, Mẹ Thứ lại chập chững bước ra hiên nhà, vương đôi mắt mờ đục nhìn ra đầu ngõ. Các con Mẹ không trở về nữa; họ đã hóa thành "dáng đứng Việt Nam" tạc vào thế kỷ. Mẹ trút hơi thở cuối cùng vào năm 2010, hưởng thọ 106 tuổi, hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người Mẹ vĩ đại. Dáng hình còng xuống vì bão giông thời đại và vầng trán nhô cao đầy bao dung của Mẹ đã trở thành nguyên mẫu cho Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng tại núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam) — quần thể kiến trúc quy mô bậc nhất Đông Nam Á, tạc nên linh hồn của hơn năm vạn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trên khắp mọi miền đất nước.
Nhà văn nhận giải Nobel Svetlana Alexievich từng chua xát khẳng định trong cuốn tiểu thuyết - chứng ngôn nổi tiếng của mình rằng: "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ" — để nhấn mạnh sự tàn khốc đã gạt bỏ thiên tính nữ và sự sống ra khỏi khói lửa đạn bom. Nhưng ở mảnh đất Việt Nam, chính khuôn mặt nhuốm màu thời gian cùng đôi mắt mờ đục ngóng con của Mẹ Nguyễn Thị Thứ lại tạc nên hình hài trọn vẹn nhất của hòa bình và độc lập. Đọc lại trang sử cuộc đời Mẹ, thế hệ hôm nay không chỉ cúi đầu tri ân một cá nhân, mà đang chiêm bái một hệ giá trị tinh thần bất diệt. Lịch sử có thể lùi xa, nhưng giọt nước mắt cạn khô và trái tim bao la của Mẹ sẽ mãi là ngọn đuốc rọi sáng, nhắc nhở chúng ta về giá trị đắt giá của hòa bình và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.



