Mẹ Ninh Thị Thu
Mẹ Ninh Thị Thu, sinh năm 1900, dân tộc Kinh, quê ở thôn Hoành Sơn, xã Phi Mô (nay thuộc thị trấn Vôi), huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Mẹ sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có 02 anh chị em, Mẹ là con thứ hai. Trước khi đi lấy chồng, Mẹ ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình.
Mẹ Ninh Thị Thu, sinh năm 1900, dân tộc Kinh, quê ở thôn Hoành Sơn, xã Phi Mô (nay thuộc thị trấn Vôi), huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Mẹ sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có 02 anh chị em, Mẹ là con thứ hai. Trước khi đi lấy chồng, Mẹ ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình. Trưởng thành, Mẹ xây dựng gia đình với ông Hoàng Văn Yến,
sinh năm 1901, người cùng quê. Mẹ sinh được 11 người con (06 trai,
05 gái). Khi các con của Mẹ trưởng thành, Mẹ có 02 người con là
đảng viên, 05 người con tham gia kháng chiến, trong đó có 02 người
con đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ.Anh Hoàng Văn Mười, sinh năm 1937, là con thứ chín của Mẹ,
học lớp bình dân học vụ, anh ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình. Tháng
năm 1966, anh lên đường nhập ngũ tham gia cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Anh được huấn luyện tại sân bay Kép (Lạng
Giang), sau đó anh được lệnh đi B vào chiến trường miền Nam. Ngày
11 tháng 5 năm 1969, trong một trận chiến đấu với quân giặc, anh đã
anh dũng hy sinh tại mặt trận phía Nam, đơn vị thuộc P2. Cấp bậc,
chức vụ trước khi hy sinh: Hạ sĩ, chiến sĩ. Anh được Nhà nước tặng
Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Hội đồng Cố vấn Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ giải
phóng hạng Ba. nen tranh



