Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ PHẠM THỊ REN VÀ MẤT MÁC NĂM 1966

Vĩnh Long17/12/2025Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

MẤT MÁC TRONG NĂM 1966

Địch đã gây ra những cuộc tàn sát đẫm máu ở Mỹ Chánh Hoà. Ngày 10 tháng 9 năm 1966, pháo của địch bắn vào khu Cao Đài Tây Ninh ở Mỹ Chánh làm chết 08 người bị thương 13 người, thiêu hủy nhiều nhà cửa. Ngày 21 tháng 9 năm 1967, máy bay trực thăng bắn vào đồng bào làm cỏ ở bưng Một mẫu, Cầu Vĩ làm chết 12 người, bị thương 01 người. Ngày 19 tháng 10 năm 1967, máy bay trực thăng của địch đã bắn vào đồng bào đi làm cỏ ở Bờ Bàu, Hoà Bình, Mỹ Hoà, làm chết 07 người. Đại đội 885 biệt kích ở Cầu Vĩ bắn chết 06 chiến sĩ ta (06 chiến sĩ này quê ở Mỹ Chánh và An Ngãi Trung. Chúng sử dụng bọn biệt kích len lỏi vào vùng giải phóng, bắn giết cán bộ và nhân dân.

Vành đai của vùng giải phóng Ba Tri từ rừng Năm Trăm ra đến ấp II (rạch Vọp), chạy xuống kinh Ông Cai, cù lao Lá, một phần của Bình Khương (xóm Đước). Từ cầu Thầy Thông đến Mỹ Chánh là vùng trắng. Nếu cán bộ, chiến sĩ chỉ bám trụ ở căn cứ thì không thể nào vận động và tổ chức quần chúng được, nhưng khi bám trụ vùng yếu rất khó khăn, vì địa hình trống trải, cách xa vùng giải phóng, từ vùng căn cứ đi vào vùng yếu Mỹ Chánh nếu đi chậm khi trở ra căn cứ thì trời sáng, dễ bị địch phát hiện, bị thương vong. Ban đêm, cán bộ chiến sĩ vào vùng yếu, rồi nhanh chóng né tránh ở các đìa trâm bầu hoặc được dân che giấu, các đêm sau sẽ ra căn cứ. Các gia đình cơ sở như ông Lê Văn Ngạn, Năm Thành (Hòa Bình), bà Hồ Thị Sảnh (Cầu Vĩ), bà Lê Thị Thiểu, bà Châu Thị Chiều (Gò Chùa), ông Nguyễn Văn Phèn, Phan Văn Bì, Nguyễn Văn Danh, ông Hai Thế, ông Cát (Bờ Bàu), Phan Văn Liếc (Tám Liếc), mẹ Năm Khưng (ấp Cây Dầu), ông Tư Chất….đã nuôi chứa cán bộ, chiến sĩ hoặc báo cáo tình hình địch cho lực lượng ta biết để có kế hoạch đối phó. Ông Tư Một chỉ có một tay đã nhiều lần chèo ghe đưa rước cán bộ chiến sĩ từ vùng giải phóng ra vùng địch kiểm soát. Chị Huỳnh Thị Khéo ở ấp Cây Dầu làm hộ sinh đã gởi thuốc men cho ta. Nói sao hết được tình nghĩa nhân dân đối với Đảng. Từ sự che chở, đùm bọc của nhân dân, lực lượng ta có điều kiện bám được vùng tranh chấp, vùng kiềm kẹp của địch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn