Mẹ Phan Thị Ba - Biểu tượng cho một thời hoa lửa
Giữa con đường nhỏ rợp bóng tre ở ấp Thành Quới, xã Tân Quới, tỉnh Vĩnh Long, căn nhà nhỏ của cụ bà Phan Thị Ba nằm lặng lẽ bên dòng Trà Mơn hiền hòa. Mỗi buổi chiều, gió lại khẽ đưa qua hàng cau trước ngõ, tiếng lá xào xạc nghe như tiếng bước chân con trở về sau những năm tháng xa quê. Mẹ ngồi nơi hiên, đôi mắt dõi theo con nước, lòng chợt se sắt… Ngôi nhà vẫn đó, dòng sông vẫn chảy, chỉ có người con trai năm nào – anh Nguyễn Văn Đức – đã mãi nằm lại nơi đất bạn Campuchia xa xôi. Gió vẫn thổi, nhưng tiếng cười của con giờ chỉ còn trong ký ức, trong những giấc mơ mà mẹ vẫn thầm gọi: “Đức ơi… bao giờ con mới về với mẹ đây con?” Mẹ đã ngoài 80, mái tóc bạc trắng như sương, ánh mắt đượm buồn nhưng vẫn hiền từ, chan chứa tình yêu thương.
Ngồi bên bàn thờ con, đôi tay mẹ run run chạm lên tấm di ảnh đã ố màu theo năm tháng. Mẹ khẽ nói, giọng nghèn nghẹn: “Ngày nó đi, nó nói với tui "Má ơi, khi nào xong nhiệm vụ con sẽ về phụ mẹ trồng lại mảnh vườn sau nhà" nhưng "Rồi nó đi luôn, đi mà chẳng kịp về…" Từ ngày nhận tin con hy sinh, mẹ Ba gần như gục ngã. Căn nhà nhỏ ngày nào vốn rộn ràng tiếng cười, nay chỉ còn lại tiếng thở dài và khói hương mỗi chiều. Nhưng rồi, mẹ vẫn gượng dậy, bởi mẹ tin: “Nó không mất đâu, nó chỉ đi làm nhiệm vụ nơi xa. Mỗi lần nghe Quốc ca, tui lại thấy bóng nó trong hàng quân, đứng thẳng người, mắt nhìn về lá cờ đỏ sao vàng.”
Hơn bốn mươi năm trôi qua, nỗi đau mất con vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai, nhưng trong ánh mắt mẹ vẫn ánh lên niềm tự hào – niềm tự hào của người mẹ Việt Nam đã sinh ra người con hiếu thảo, người chiến sĩ đã ngã xuống vì hòa bình.
Bài viết, hình ảnh: NGUYỄN THÀNH NHÂN (Tổng phụ trách Đội)
Câu chuyện thời hoa lửa - Người giữ lửa miền sông nước - Trịnh Văn Lâu
Cuộc đời ông là biểu tượng của lòng kiên trung, của tinh thần cách mạng không bao giờ tắt. Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1929, tại xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Xuân, tỉnh Vĩnh Long). Lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước, tuổi thơ của cậu bé Lâu thấm đẫm mồ hôi và gian khó. Mới ba tuổi, ông mắc bệnh thương hàn nặng, tưởng chừng không qua khỏi. Chính tình thương của mẹ đã níu giữ mạng sống cho ông. Sau này, mỗi khi nhắc lại, ông thường nói: “Tôi được mẹ sinh ra hai lần — một lần bằng máu thịt, một lần bằng tình thương.” Khi mới mười hai tuổi, cha mất sớm, cậu bé Lâu trở thành trụ cột trong nhà. Dù chỉ học hết lớp ba, ông vẫn nổi tiếng ham học, thông minh và chăm chỉ. Ông từng nói: “Học không chỉ để biết chữ, mà để hiểu đời, hiểu dân, hiểu nước mình.” Tháng Tám năm 1945, tiếng trống cách mạng dậy khắp miền Tây. Ở tuổi mười sáu, Lâu gia nhập Thanh niên Cứu quốc, rồi hăng hái tham gia giành chính quyền ở Cầu Kè. Từ đó, ông bước vào con đường cách mạng đầy hiểm nguy nhưng vinh quang. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục làm công tác tuyên truyền, tổ chức, rồi được kết nạp vào Đảng năm 1947. Những năm kháng chiến chống Pháp ác liệt, ông luôn là người đi đầu trong mọi phong trào. Ông sống giản dị, hòa mình với dân, vận động bà con đóng góp, nuôi giấu cán bộ. Người dân yêu mến gọi ông là “chú Lâu bền chí” — bởi dù gian khổ đến đâu, ông vẫn không lùi bước. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, ông đảm nhiệm nhiều cương vị: từ Bí thư xã, Huyện ủy, rồi được tín nhiệm giao trọng trách lớn hơn. Năm 1970, khi đang là Bí thư Thị ủy, ông bị địch bắt, tra tấn dã man, nhưng vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản. Ông bị đày ra Côn Đảo, chịu đựng cảnh “địa ngục trần gian” suốt 5 năm, vẫn không ngừng học tập, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đồng đội. Ông nói: “Còn sống là còn chiến đấu, dù chỉ bằng ý chí.”
Ngày đất nước thống nhất, ông trở về trong niềm vui vỡ òa. Đảng và Nhà nước giao cho ông nhiều trọng trách quan trọng. Ông từng giữ các chức vụ: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh, Bí thư Tỉnh ủy Cửu Long và Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng để lại dấu ấn sâu đậm bằng phong cách lãnh đạo gần gũi, lắng nghe và tận tụy. Ông luôn tin rằng: “Cán bộ là người đầy tớ trung thành của nhân dân.” Ông thường xuyên đi cơ sở, đến từng ấp, từng xã, gặp gỡ người dân, nghe họ kể chuyện ruộng đồng, lúa vụ. Có lần, ông tự tìm đọc tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm” để hiểu hơn tâm lý đồng bào Khmer, mong chính sách của tỉnh được thực thi thấu tình đạt lý. Khi về hưu, ông vẫn chưa chịu nghỉ. Ông đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Vĩnh Long, miệt mài vận động học bổng, gây quỹ hỗ trợ học sinh nghèo. Mọi người trìu mến gọi ông là “Ông Tư khuyến học”. Ông từng nói: “Cách mạng hôm nay là nuôi trí tuệ cho thế hệ mai sau.” Cả cuộc đời cống hiến, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Lao động hạng Nhất; Huân chương Giải phóng hạng Nhất; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương, kỷ niệm chương khác. Ngày 21 tháng 8 năm 2025, đồng chí Trịnh Văn Lâu (Tư Cẩn) trút hơi thở cuối cùng lúc 0 giờ 25 phút, hưởng thọ 96 tuổi. Ông ra đi thanh thản, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cửu Long, Vĩnh Long – những nơi ông từng lãnh đạo, gắn bó suốt cả cuộc đời. Tang lễ được tổ chức trọng thể tại quê nhà phường Tân Ngãi, thành phố Vĩnh Long. Hàng ngàn người dân, đồng đội, học trò và thế hệ trẻ đã đến thắp nén hương tiễn biệt người cộng sản kiên trung – người suốt đời giữ trọn chữ “Tâm” với Đảng, chữ “Nghĩa” với dân.
Giờ đây, khi hoàng hôn buông trên dòng sông quê, hình ảnh ông Tư Cẩn vẫn như còn đó – hiền từ, khiêm nhường, ánh mắt vẫn ấm lửa. Cuộc đời ông là khúc tráng ca đẹp đẽ của một người con miền sông nước, trọn vẹn một đời vì Đảng, vì dân, vì thế hệ tương lai.


