MẸ QUYẾT LANG Y
Năm 1995 tôi được dự buổi tọa đàm, chủ đề “Đại Lịch kháng chiến chống Pháp” theo sự chỉ đạo của lãnh đạo huyện Văn Chấn, cần có thêm tư liệu lập hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT cho xã Đại Lịch. Trong buổi tọa đàm các nguyên lão nhân chứng: Đào Tiến Lộc, Tạ Quang Nghi, Phạm Văn Thuận... nhắc nhiều đến “Bà lang Quyết”, tên dân dã của một lang y có tiếng công tích thời đó. Nhưng công việc cuốn hút, tôi chỉ ghi mấy dòng vào sổ tay mà không để tâm khai thác. Mười năm sau, kh
Cuốn sách "Truyền thống 50 năm, Đại Lịch xây dựng và trưởng thành", do Đảng bộ xã ấn hành năm 1995, có ghi: “Thương binh, bệnh binh từ các chiến dịch, đưa về Đại Lịch, được bà Phạm Thị Quyết và các lang y tận tình cứu chữa, giúp bộ đội sớm trở lại đơn vị”. Bà Phạm Thị Quyết, dân bản thường gọi là bà lang Quyết. Còn bộ đội, thương binh thì tri ân: “Mẹ Quyết lang y”. Bà lang Quyết người xã Việt Hồng, về làm dâu làng Kè, xã Đại Lịch. Ông Lò Văn Tình, chồng bà, trước cách mạng, giữ chân Tuần tráng (Chân phụ việc cho hào lý). Người con trưởng, tên là Nhân, theo tục, dân làng thường gọi là bà Tuần Nhân. Bà Tuần Nhân, tức lang Quyết, có tới bẩy anh chị em ruột, nhưng người hay thuốc là các bà: Quyết, Phong, Thục. Vì hay thuốc, yêu nghề lang vườn lang núi, nên nhóm chị em thuốc, dù khác làng bản, vẫn thường xuyên đến với nhau, lúc đỡ đần chế biến, khi san sẻ lượng cân, bà Quyết trở thành nhóm trưởng lang y của gia đình và làng bản, động lực đó giúp bà quyết đoán hơn trong xét đoán phát hiện nguyên nhân bệnh tật để tìm cây thuốc chữa trị. Với người dân tộc và miền núi, việc biết chút ít về thuốc nam và cách chữa bệnh thông thường, thì nhiều người làm được, còn trị bệnh, diệt bệnh, mà an toàn cho người bệnh, thì phải nhờ đến lang y "mát tay". Ở Đại Lịch, những năm sau Cách mạng tháng Tám, chưa có đông y (y học cổ truyền), càng không có tây y, thì lang y là cứu hộ. Độ "mát tay" chữa được nhiều bệnh nhân phải nhắc đến bà lang Quyết (Phạm Thị Quyết), bà lang Sửu (Hoàng Thị Sửu), bà lang Thục (Phạm Thị Thục), bà lang Bao (Phạm Thị Bao), ông lang Bền (Hoàng Văn Bền). Có tiếng mà cũng có tâm, các vị "Lang" trở thành tình nghĩa, thành nhu cầu chăm sóc sức khoẻ giữa cuộc sống lao động chân tay của mỗi người dân, mỗi gia đình.
Cách mạng tháng Tám thành công ở Đại Lịch (3/8/1945) và toàn tỉnh Yên Bái. Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, Chủ nhiệm xã bộ Việt Minh lúc này là ông Đào Tiến Lộc, thấy cần chuyển đổi "Nhà thương" Gò Lim thời Pháp, thành Trạm lang y (Sau này là Trạm y tế) của xã. Bà Phạm Thị Quyết được mời ra làm người tập hợp các tay thuốc nam, chữa bệnh cho người dân. Trạm đặt tại Gò Bằng Thanh Bồng, bên cạnh trường tiểu học Đại Lịch (trước cách mạng là Trường Sơ học yếu lược). Gọi là Trạm, nhưng cũng chỉ có một nhà lá phên vách. Các lang y gặp nhau trò chuyện kinh nghiệm của mỗi người trong nghề bốc thuốc từ các loại cỏ cây hoa lá có sẵn trong vườn, rừng. Bà lang Phạm Thị Quyết quả là người "tâm phục khẩu phục" đối với mỗi vị y lang, nên những lời bà đưa ra trước nhóm đều có sức thuyết phục cao. Bà luôn nói, làm lang y trước nhất là nghĩ đến cái tâm, sau đấy là cái phúc. Lời bà, ai ai cũng hiểu, cũng trọng.
Năm 1978, tôi về Đại Lịch gặp bà Phạm Thị Thục một người hay chữ, để sưu tầm truyện cổ, ca dao, dân gian. Bà Thục có đọc hai câu hát đối: Miếng giầu (trầu) ta đắp cho người/ Cũng là miếng thuốc đắp mười cái đau !
Tôi hỏi: "- Bà sáng tác đấy chứ ạ ?", "- Không, bà Quyết (Phạm Thị Quyết). Rất tiếc, bà Quyết không phải là người tôi đang tìm gặp lúc này, nên không chú ý, mà cũng phải đến hai mươi năm sau tôi mới biết bà Phạm Thị Thục là em gái ruột bà Phạm Thị Quyết. Giờ, ngồi ngẫm lại, mà vẫn không cắt nghĩa nổi lời hát đối của bà Lang. Hai câu giao duyên hay hát thách khách, chuyện ngày Xuân của các bậc trai gái làng. Nghĩa đen thì đã có, nhưng nghĩa bóng, ẩn ý, sâu sắc lắm. Chỉ biết rằng, trong phương thuốc dân gian, miếng trầu, sau khi đã thành bã trầu, cũng là một… bài thuốc rất hiệu nghiệm, nay người dân quê vẫn dùng.
Thực dân Pháp tái chiếm. Cả Văn Chấn nằm trong vùng địch (2/10/1947). Xã Đại Lịch thành hậu cứ kháng chiến của Huyện, của tỉnh từ cuối năm 1947 đến cuối 1952. Trường tiểu học dừng lên lớp, giành chỗ làm nơi cứu chữa thương, bệnh binh từ các địa phương, nhất là từ các chiến dịch: Lý Thường Kiệt (1951), Tây Bắc (1952), Điện Biên Phủ (1954), đưa về theo tuyến Ba Khe - Đại Lịch - Hiền Lương. Trạm Lang y ngày trước trở thành trạm cứu thương chuyển tiếp duy nhất đặt tại hậu địch do một Y sĩ Quân y phụ trách. Thuốc tây rất hiếm, Huyện ủy Văn Chấn chỉ thị tổ chức cứu chữa thương bệnh binh bằng thuốc nam trước khi đưa họ về các Bệnh viện hậu phương hoặc gia đình. Bà Lang Phạm Thị Quyết lại được giao phụ trách tổ thuốc nam này. Hàng chục thương binh, bệnh binh từ Mặt trận, tập kết trong rừng cây cổ thụ Gò Bằng Thanh Bồng. Các bà lang, ông lang tạm dừng việc bốc thuốc theo ấm, theo toa (điều trị dài ngày) mà tập trung cao độ cho việc đi tìm các loại thuốc cây rừng đặc trị, sao cho phục hồi các vết thương của thương binh, phục hồi sức lực của bệnh binh nhanh nhất, giảm mật độ điều trị tại lán, đề phòng máy bay Pháp phát hiện, ném bom.
Chiến dịch Lý Thường Kiệt năm 1951, thương binh từ Nghĩa lộ đổ về trạm Đại Lịch đông gấp nhiều lần dự kiến. Lãnh đạo xã huy động nhân dân các làng cấp tập làm lán cứu thương dã chiến. Ngoài khu Gò Bằng, các lang y cắt cử người cùng phụ nữ xã lên Khe Hả, Khe Cái, Núi Báng, Núi Đảy … tìm cây thuốc. Rồi thay nhau chế biến, thay nhau đắp băng vết thương cho bệnh nhân. Có những vị thuốc "lạ", chỉ hái lúc lnửa đêm, chỉ đắp lúc gà gáy sáng (Bình minh chưa lên), hoặc mười phút phải trở thuốc một lần… Sắc uống, rồi rửa vết thương, ngâm chân tay, và cả xôi lá, trải nằm…. Những việc như thế, bà lang Quyết phải tính toán kỹ rồi mới phân công người làm. Chẳng hạn: Đi lấy thuốc đêm, người lấy phải là lang y, biết rất rõ cây thuốc, buộc dây đánh dấu từ lúc còn ban ngày (tránh nhầm với các cây lá độc, nhất là lá ngón). Nếu rừng xa, núi cao, phải báo Đội du kích cử người đi cùng. Thời đó, cây thuốc đặc trị từng loại bệnh, thuộc bí mật tuyệt đối của mỗi lang y, chỉ chủ nhân mới biết lá, biết lấy thân, lá hay dễ và cách pha giã, đắp "miếng" vào vị trí vết thương, hoặc loại bệnh ủ trong người, cần sắc uống, cần xông hơi… Bà Quyết tôn trọng bí quyết đó của đồng lang, nhưng đòi hỏi cao các lang y về trách nhiệm chữa trị. Riêng bà Quyết, hai môn thuốc đặc hiệu nhất, cũng là chế tác phức tạp nhất, là thuốc chữa sốt rét từ dây ký ninh và miếng đắp hút mủ khuẩn trùng từ cây đay suối. Những thương binh nặng, cần xử lý nhanh, bà tự tay xét đoán chữa trị theo phương châm, thuốc từ nhiều đến ít, hoặc chỉ cần liều nhẹ, sẽ ổn. Các đồng lang của bà cũng thường theo phương châm này. Cá biệt, có loại bệnh, loại thuốc, phải điều trị theo phương thức riêng nghĩa là vừa thuốc, vừa an ủi, động viên tinh thần. Có thương, bệnh binh bị thuốc "cắn" không chịu nổi, tự tay gỡ bỏ, bà lang Quyết luôn ở bên, vỗ về, rồi tiếp tục đắp lại thuốc. Nhờ đó, chỉ trong thời gian hai, ba ngày, thương binh, bệnh binh nặng, cơ bản ổn định sức lực, đội dân công hỏa tuyến có thể nhận người, đưa thương binh về Quân y viện hậu phương đặt tại Khu 10, huyện Hạ Hòa. Chứng kiến những hình ảnh đồng đội được bình phục nhanh trong chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 9/1951), một vị chỉ huy Tiểu đoàn, cũng là thương binh Trạm lán dã chiến Gò Bằng cảm động gọi bà lang Quyết bằng cái tên yêu thương: "Mẹ Quyết lang y". Cái tên "Mẹ Quyết lang y", được lớp lớp thương binh bệnh binh và người dân Đại Lịch ngày đó truyền tụng, và còn nhắc đến bây giờ.
Hôm nay, gặp người trong cuộc.
Ông Hà Văn Tích 90 tuổi (tháng 6/2022). Cựu cán bộ Kháng chiến Đại Lịch, Nguyên Bí thư Đảng ủy xã, đưa chúng tôi lên Gò Bằng, giờ là sân trường Tiểu học và THCS Hoàng Văn Thọ. Trang trọng trong khuôn viên trường là tấm Văn bia "Di tích lịch sử Trường Đại Lịch" khắc đá Granite trên nền phông cuốn vở học sinh. Văn bia có đoạn: Năm 1947 Pháp đánh chiếm Văn Chấn, Trường tạm ngừng học tập, chuyển thành nơi cứu chữa thương binh trong các chiến dịch Lý Thường Kiệt, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.
Ông nói thêm: "- Ngày đó (1947 – 1954), thuốc tây có đâu, nếu không có thuốc nam của các lang y thì chắc chắn thương binh ta hi sinh nhiều lắm!" Trong gia đình, ông Tích gọi bà lang Quyết là bá (bác) ruột, kể rằng, nhà bà lang nghèo, các tháng giáp hạt, thường sang nhà "Cụ tôi" (mẹ ông Tích) vay thóc, nhưng làm thuốc cho người ta, bà chả lấy tiền, chả lấy lễ. Bà bảo "Thuốc men chỉ là làm phúc thôi". Năm tổng kết kháng chiến, được tỉnh mời đi dự và nhận Huân chương về, bà đem quà chia cho cả tổ lang y Trạm Gò Bằng. Ngày bà mất (năm 1966) tỉnh Nghĩa Lộ cử đoàn về viếng, rất nhiều Cựu chiến binh nghe tin, cũng về thắp hương viếng bà.
Tôi tìm đến nhà cụ Hoàng Văn Tỵ ở làng Thanh Bồng, một cựu du kích Đại Lịch đánh các trận Đèo Din, Lũng Bũm nổi tiếng. Cụ Tỵ năm nay (tháng 7/2022) đã 94 tuổi, sức vóc tuổi Trăm, vẫn khoan thai, trí nhớ không thua kém trung niên: "- Trận Lũng Bũm tháng 12 năm 1947, tôi bị thương ở nhiều phần mềm, lại vượt qua bãi chằm lầy nên nhiễm trùng nặng, du kích đưa về nhà, hôm sau sốt cao, sưng to, vết thương loét đỏ. Bà Quyết đi đêm vào rừng lấy lá cây, loại lá, vết thương nhẹ, chỉ đắp một miếng, nhưng với tôi, phải đắp đến bốn năm miếng nó mới tự đùn hết bùn đất ra". Cụ Tỵ còn kể: Tháng 10/1948, ông Đào Tiến Lộc, lúc này đã là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh huyện, đi công tác bị địch phục kích, anh du kích bảo vệ và anh cán bộ Quân báo hy sinh. Ông Lộc bị thương nặng, tự lấy lá cỏ rác nhai đắp cho cầm máu rồi nằm ép xuống bụi nứa. Sáng hôm sau du kích mới tìm thấy đưa về lán. Bà Sửu, bà Quyết được đón đến trực tiếp cứu chữa. Ngày thứ ba, cấp trên yêu cầu đưa ông Chủ nhiệm Huyện bộ ra nhà thương Yên Bái.
Giở lại sổ ghi chép Tọa đàm, tôi gặp lời bà Hà Thị Thuần, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng (2018), năm 1954 là Bí thư Phụ nữ xã, bà phát biểu: bà lang Quyết là hội viên phụ nữ cứu quốc, có công lớn, được Bộ quốc phòng tặng Bằng Danh dự, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, nhưng bà không muốn nhận riêng, mà bảo, Huân chương lẽ ra tặng cho Tổ thuốc nam…
Những ngày mùa thu tháng Tám này, cũng là tiến tới kỷ niệm 70 năm chiến dịch Tây Bắc giải phóng hoàn toàn Nghĩa Lộ - Yên Bái, tôi theo chân Nhà giáo Lò Thị Nga cháu nội cụ Phạm Thị Quyết, về Đại Lịch. Những câu chuyện về các lang y đất này trong kháng chiến 9 năm, và các chiến dịch Lý Thường Kiệt, Tây Bắc, Điện Biên Phủ… như được hâm nóng sau lời kể hào hứng của những người trong cuộc, cùng thời, của các con cháu cụ Lang y Quyết, như Hoàng Hữu Khanh, Lò Văn Thư, Lò Thị Nga… Đồng lang của cụ Quyết, cụ Sửu, cụ Bao không còn ai. Hàng mấy chục Cựu chiến binh, cựu du kích từng được các cụ cứu chữa, vết thương qua khỏi, nay chắc chỉ còn số ít, mà cũng đã kề trăm tuổi. Cụ Tỵ, cụ Tích, cụ Phúc… ngồi bên mấy chúng tôi, nhìn xa xa, mường tượng.
70 năm ! Vâng ! Nghĩa Lộ - Yên Bái, qua ba cuộc chiến tranh, nay đã từng bước đi lên, đổi mới và phát triển. Nhưng những người phụ nữ kháng chiến một thời, rất đỗi bình dị, rất đỗi tượng đài, thể như "Mẹ Quyết lang y", sẽ vẫn sống trong lòng người dân, và cùng nhịp bước với thế hệ trẻ vì một quê hương giàu đẹp, hạnh phúc.


