12.Mẹ Suốt
Mẹ Việt Nam Anh hùng
Trên chiếc mái chèo mà ông Lại Tấn Chuyên giữ lại sau chiến tranh có năm lỗ thủng do bom bi. Mái chèo ấy từng cùng chiếc chèo của Mẹ Suốt đưa người và hàng qua sông Nhật Lệ. Một người cầm lái, một người chèo phách. Người sát cánh với mẹ giúp ta nhìn rõ những chuyến đò ấy: có hiểm nguy và cả tình thương giữa hai thế hệ.
Nguyễn Thị Suốt sinh năm 1906 trong một gia đình ngư dân nghèo ở Bảo Ninh, bên kia sông Nhật Lệ so với thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ lan tới miền Bắc, mẹ đã gần sáu mươi tuổi, vẫn quen sông nước và chủ động nhận nhiệm vụ chèo đò. Việc giữ giao thông còn gắn với cứu thương, phòng cháy, chữa cháy.
Sông Nhật Lệ nối Bảo Ninh với Đồng Hới, nhưng thời chiến cũng là đoạn đường nằm dưới hỏa lực không kích. Qua sông không chỉ có người dân: còn có bộ đội, cán bộ, đạn dược và những người bị thương cần được đưa về nơi an toàn. Để giữ liên lạc giữa đôi bờ, chiếc đò phải sẵn sàng ngay cả khi máy bay xuất hiện. Mỗi chuyến đều có nguy cơ không trở lại.
Ngày 7/2/1965, mồng sáu Tết Ất Tỵ, máy bay Mỹ mở trận tập kích lớn vào Đồng Hới và vùng phụ cận. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận những đợt oanh tạc dữ dội, cột nước tung lên khi bom đạn rơi xuống sông. Mẹ Suốt tiếp tục chở bộ đội, vận chuyển đạn ra tàu hải quân và duy trì đường liên lạc với Bảo Ninh. Bà đối mặt với dòng chảy và những đợt máy bay bổ nhào.
Người thường cùng mẹ trên đò khi ấy là Lại Tấn Chuyên, một thanh niên Bảo Ninh được điều từ Đội ba phòng xuống hỗ trợ. Mẹ giữ lái, Chuyên cầm phách, dùng sức chèo đẩy thuyền tiến lên. Ông kể lại cho báo chí rằng, trong những chuyến biết trước có thể nguy hiểm, mẹ muốn nhận phần khó về mình. Mẹ thương anh như con, lo anh còn trẻ, chưa kịp lập gia đình.
Trong lời Chuyên được Báo điện tử Chính phủ ghi lại, mẹ bảo: “Tau già rồi, có chết cũng không răng, mi còn trẻ, phải lấy vợ chứ!”. Đó là lời người bạn chèo đò nhớ lại nhiều năm sau. Mẹ từng trải, hiểu hiểm nguy và muốn che chở cho người cùng làm nhiệm vụ. Ông Chuyên còn kể mẹ thường nhường phần cơm, khoai nhiều hơn để người trẻ có sức chèo. Chuyên vẫn không chịu ở lại bờ.
Những chuyến đò tiếp tục sau trận tập kích đầu tiên. Ngày 2/3/1965, khi Đồng Hới lại hứng chịu không kích quy mô lớn, theo lời nhân chứng do Báo điện tử Chính phủ công bố, mẹ và Chuyên đã chèo qua sông hơn mười lượt. Họ đưa người và hàng qua lại để các đơn vị làm nhiệm vụ. Đằng sau số lượt đò là hai người phải giữ tay chèo suốt một ngày mà bom đạn có thể ập xuống bất kỳ lúc nào.
Ông Chuyên còn nhớ có những lần hai người khát quá, phải uống chung nước đựng trong một chiếc nón rách. Chi tiết được ông kể trong cuộc phỏng vấn của chuyên đề Công an Đà Nẵng. Nó gợi ra sự thiếu thốn ngay giữa nhiệm vụ. Chiếc nón không chỉ che nắng; có lúc trở thành vật đựng nước cho hai người vừa vượt sông, rồi chuẩn bị đi tiếp.
Trong những ngày khác, con đò còn phục vụ tàu hải quân trực chiến. Chuyên đi chặt lá ngụy trang, mẹ giữ công việc chèo đưa bộ đội, thương binh và tiếp tế. Không có sổ ghi chính xác mọi chuyến đi; nhưng công việc vẫn đều đặn: hôm trước vừa thoát bom, hôm sau lại xuống bến.
Cuối năm 1965, hình ảnh Mẹ Suốt và người chèo cùng xuất hiện trong những thước phim của điện ảnh quân đội. Nhà thơ Tố Hữu cũng gặp mẹ tại Quảng Bình ngày 4/11 năm ấy, rồi sáng tác bài thơ mang tên mẹ. Con gái mẹ, bà Trần Thị Huệ, kể rằng mẹ đọc được bài thơ và xúc động đến khóc. Trong khi thơ ca khiến tên tuổi mẹ được biết rộng rãi, ở bến sông vẫn còn những công việc cần bàn tay người chèo.
Sau đó Chuyên rời bến đò đi phục vụ trên tuyến Trường Sơn. Mẹ Suốt tiếp tục gắn bó với nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và hy sinh trong một trận bom năm 1968. Khi trở về quê sau chiến tranh, Chuyên mới biết tin mẹ không còn. Ông tìm lại chiếc đò cũ và hai mái chèo. Theo bài viết trên Báo điện tử Chính phủ, mái chèo của mẹ bằng gỗ lim dài 3,8 mét được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp Quảng Bình, còn mái chèo của Chuyên mang năm lỗ bom bi.
Ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia vẫn còn chiếc nón và mảnh vải ngụy trang mẹ từng dùng trên sông. Đặt cạnh lời người đồng hành, hiện vật khiến quá khứ gần gũi: chiếc nón của mẹ từng dùng ngụy trang; chiếc nón rách trong lời Chuyên lại có lúc đựng nước cho cả hai. Mái chèo mang dấu đạn nhưng không ghi hết những lần đưa người sang bờ. Nhớ Mẹ Suốt không phải chỉ nhớ một người phụ nữ dũng cảm, mà còn nhớ tình thương bà dành cho người trẻ và những chuyến đò đã góp phần giữ mạch sống đôi bờ.


