Mẹ Suốt - Người Mẹ Vĩ Đại Vì Tổ Quốc
Mẹ Suốt – nữ anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Hình ảnh mẹ chèo đò giữa mưa bom bão đạn đã trở thành niềm tự hào của quê hương Quảng Bình. Tên tuổi Mẹ Suốt mãi khắc ghi trong lịch sử và trong lòng các thế hệ người Việt.

Trên dải đất Quảng Bình đầy nắng gió, nơi sông Nhật Lệ hiền hòa ôm lấy những bãi cát trắng, chiến tranh từng đi qua như cơn bão dữ, để lại biết bao đau thương nhưng cũng thắp lên những con người bình dị mà rực sáng. Trong những năm tháng ấy, khi bom đạn rền vang trên bầu trời Đồng Hới, có một dáng mẹ nhỏ bé mà kiên cường vẫn ngày đêm bám lấy bến sông, biến chiếc đò mỏng manh thành con đường đưa bộ đội qua những làn bom khốc liệt. Đó là Mẹ Suốt – người phụ nữ đã đem trọn tấm lòng của mình dâng cho Tổ quốc, để từ đôi tay gầy guộc mà viết nên một trong những trang đẹp nhất của thời hoa lửa. Câu chuyện về mẹ không chỉ là ký ức, mà là linh hồn của đất Quảng Bình (nay thuộc Quảng Trị)– nơi con người nhỏ bé nhưng trái tim thì lớn như sóng biển ngày đêm vỗ bờ.
Ngày ấy, sông Nhật Lệ không êm đềm như bây giờ. Nước sông đục và dậy mùi thuốc súng, sóng gợn lên từng cơn vì sức ép bom đạn. Bầu trời thì lúc nào cũng nặng trĩu tiếng máy bay rít qua, tiếng nổ xé toạc không gian như muốn nuốt chửng cả thị xã Đồng Hới. Và ở bến sông ấy, giữa khói bom và những vệt lửa dài vẫn còn cháy âm ỉ, dáng mẹ Suốt nhỏ bé như một dấu chấm giữa trang sử cuồn cuộn, nhưng là dấu chấm mà không bao giờ bị xóa nhoà.
Mẹ nghèo. Nhà mẹ chỉ có mảnh vườn cát, căn chòi tranh nhỏ và vài cái nồi sứt. Mẹ chồng đã mất, chồng mẹ cũng mất sớm vì bệnh. Mẹ sống với bầy con nheo nhóc, đứa lớn thay đứa nhỏ, đứa bệnh thay đứa gầy. Nhưng lạ thay, người đàn bà gồng gánh bao nhiêu nhọc nhằn ấy lại có một trái tim rộng như chính dòng Nhật Lệ mà mẹ chèo mỗi ngày. Mẹ bảo: “Nhà mình nghèo ri, nhưng đất mình nghèo hơn. Mình cực mấy cũng ráng mà giữ đất.” Câu nói đơn giản đến mộc mạc ấy, mẹ nói khi đang bẻ khoai, nói khi đang vá lại chiếc áo con, nói khi mái nhà bị gió Lào quật nghiêng. Dường như trong từng hơi thở của mẹ đã có sẵn một mạch nguồn yêu nước mà không cần ai truyền dạy.
Rồi chiến tranh đến. Những ngày đầu, mẹ chỉ chèo đò đưa dân sang sông lánh nạn. Nhưng khi Quảng Trị đỏ lửa, quân ta cần nhân lực, cần lương thực, cần người vượt sông – thì mẹ bước lên trước, như một lẽ tự nhiên. Người ta hỏi mẹ: “Mẹ tuổi ni rồi, bom đạn rứa, mẹ có sợ không?” Mẹ chỉ cười, nụ cười như vệt nắng hiếm hoi giữa bầu trời xám xịt: “Sợ chứ, ai mà không sợ. Nhưng mẹ còn đó, đò còn đó, nước sông còn đó, thì mẹ chèo.” Và từ hôm ấy, mẹ trở thành người lái đò kiên cường nhất trên bến sông Nhật Lệ.
Có những đêm mưa như trút, mẹ vẫn chèo. Trời tối sầm lại như muốn nuốt hết mọi bóng dáng người. Gió quất vào mặt mẹ bỏng rát, nhưng mái chèo vẫn nhịp nhàng. Bộ đội ngồi phía sau, áo cũng ướt sũng, súng ôm chặt vào ngực, nghe tiếng bom nổ trên đầu mà tim đập thình thịch. Mẹ Suốt lúc ấy không hô khẩu hiệu, không nói lời hùng tráng. Chỉ nhẹ giọng trầm ấm như đang ru con rằng: “Các con đừng lo, mẹ đưa qua được hết.” Và lạ kì thay, trong cái lạnh, cái mùi thuốc súng, cái tiếng máy bay hung dữ ấy, giọng nói của mẹ lại ấm hơn cả chăn, vững hơn cả thuyền.
Có lần, địch đánh trúng ngay cửa sông. Đò mẹ chao đảo dữ dội, nước tràn vào, cả toán bộ đội hốt hoảng. Một chiến sĩ trẻ túm lấy tay mẹ, giọng run run: “Mẹ… răng mà mẹ còn chèo được?” Mẹ chỉ nói, vẫn không rời tay khỏi mái chèo: “Mẹ không chèo thì ai đưa tụi con qua?” Không dấu chấm, không xuống dòng, không cần diễn giải. Câu nói gọn lỏn, nhưng mạnh như thép vừa ra lò. Và đêm ấy, khi đưa được bộ đội sang bên kia trong tiếng bom rền rĩ, mọi người mới nhận ra tay mẹ rớm máu vì nắm mái chèo quá chặt.
Nhưng mẹ không chỉ chở người khỏe. Nhiều nhất, mẹ chở thương binh. Có thương binh máu thấm đỏ cả vạt áo mẹ. Có người mê man gọi tên mẹ mình trong lúc mẹ Suốt là người bế họ lên thuyền. Có những đêm nước cạn, bùn lầy, mẹ lội xuống đẩy đò, nước lạnh ngắt đến tím người. Có đêm thương binh nặng thở thoi thóp, mẹ để họ gối đầu lên đùi mình, tay run run lau máu trên trán họ, miệng thì thầm: “Ráng nghen con, qua được nửa sông rồi, còn mẹ là còn hy vọng.” Và không biết bằng cách nào, lời mẹ nói – lời của một người phụ nữ nông dân – lại mạnh hơn cả thuốc, khiến những người tưởng như ngã xuống vẫn cố mở mắt thêm lần nữa.
Người ta kể rằng, có một lần bom nổ cách thuyền chỉ vài mét. Nước bắn thẳng lên như một tảng tường. Mảnh bom văng xượt qua mặt mẹ, để lại một đường sẹo dài. Máu chảy xuống cổ, nhưng mẹ vẫn tiếp tục chèo, miệng chỉ nói: “Không răng mô, mẹ còn chèo được.” Sau này nhiều bộ đội sống sót kể lại rằng khoảnh khắc ấy đã đánh thức trong họ một cảm giác thiêng liêng khó diễn tả: cảm giác được bảo vệ không chỉ bởi cây súng, mà bởi một trái tim của một người mẹ suốt cao cả.
Ngày đất nước hòa bình, người ta phong tặng mẹ danh hiệu Anh hùng. Nhưng mẹ chỉ nói: “Có chi mô mà anh hùng. Mẹ chỉ chèo đò cho bộ đội thôi.” Câu nói đơn giản nhưng chứa cả một trời cao lớn. Bởi những người làm nên lịch sử thường không nghĩ mình đang làm điều vĩ đại – họ chỉ làm điều họ tin là đúng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khi mẹ mất, Quảng Bình lặng đi. Trên bến sông, những người lính cũ từ Quảng Trị trở về đứng rất lâu, nhìn xuống dòng nước. Họ nói rằng trong tiếng sóng ấy vẫn có tiếng mái chèo của mẹ, trong hơi gió ấy vẫn có hơi thở của mẹ, và trong lòng người đất Quảng Trị mới hôm nay vẫn có bóng hình một người mẹ đã sống trọn đời mình cho đất nước.
Mẹ Suốt không để lại của cải. Không để lại đất đai. Không để lại di vật. Nhưng mẹ để lại tinh thần – thứ tài sản không thể đo đếm, không thể mất đi. Tinh thần của người phụ nữ Quảng Bình, mộc mạc mà gan góc, nhỏ bé mà phi thường, giản dị mà sáng như một vì sao chói lọi trong đêm tối chiến tranh.
Và dù bao nhiêu năm trôi qua đi nữa, khi người ta nhắc đến thời hoa lửa, nhắc đến Quảng Trị mới, nhắc đến những chuyến đò vượt bom giành lấy từng hơi thở của sự sống, thì hình ảnh hiện ra đầu tiên vẫn là dáng mẹ Suốt trên con đò bé nhỏ, mái chèo gầy mà mạnh đến lạ, như thể mỗi nhịp chèo ấy đang tự viết thêm vào trang sử của quê hương.
Và có lẽ vì những năm tháng mẹ đã sống, đã chèo, đã hiến tặng cả sức mình cho dòng sông và cho Tổ quốc, mà hôm nay, khi chiến tranh đã lùi xa, người dân Quảng Bình vẫn luôn nói rằng bóng dáng mẹ không bao giờ rời khỏi bến Nhật Lệ. Chính từ sự tri ân sâu nặng ấy, Tượng đài Mẹ Suốt đã được dựng lên ngay nơi mẹ từng đứng, từng đặt mái chèo xuống mặt nước. Tượng mẹ bằng đá xanh, hiên ngang giữa gió biển, mái khăn mỏ quạ lật phất trong gió như vẫn còn vang lên hơi thở của thời lửa đạn, còn bàn tay mẹ nắm chặt mái chèo như nhắc ta rằng: bao nhiêu năm trôi qua, lòng quả cảm của mẹ vẫn không hề đổi màu. Người dân gọi đó là “trái tim của bến sông”, bởi mỗi khi nhìn vào tượng mẹ, ta không chỉ thấy một pho tượng, mà thấy cả một đời người mẹ đã chèo đò cho quê hương đến ngày thắng cuộc.



