MẸ SUỐT: TẤM LÒNG NGHỆN NGÀO BÊN BẾN SÔNG NHẬT LỆ VÀ HẢI TRÌNH TRÊN DÒNG SÔNG LỬA
Có những miền quê trên dải đất miền Trung nắng gió mà chỉ cần nhắc đến tên gọi, người ta đã nghe thấy tiếng sóng biển rì rào vỗ vào bờ cát trắng, nghe thấy cái nắng gắt gỏng của mùa hè chang chang cồn cát và cơn gió Lào thổi rát qua từng tán phi lao. Xã Bảo Ninh, nằm nép mình bên dòng sông Nhật Lệ xanh trong thuộc thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, từng trôi qua những năm tháng thanh bình và trầm lắng như một bức tranh thủy mặc của làng chài ven biển. Ở nơi ấy, những người phụ nữ cằn cỗi vì sương gió cả đời gắn chặt cuộc xới với chiếc ghe, đôi mái chèo và vị mặn mòi của muối biển. Nhưng khi bão táp của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tràn qua, biến dải đất Quảng Bình thành "tọa độ lửa" – nút giao thông sinh tử nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, một người mẹ chèo thuyền ở cái tuổi gần sáu mươi đã bước vào lịch sử. Mẹ Nguyễn Thị Suốt, bằng đôi bàn tay chai sần, tấm lưng gầy còm và một trái tim bao la tình thương dành cho những người lính ra trận, đã một mình đạp sóng dữ, dội qua mưa bom đạn dội để đưa hàng ngàn lượt bộ đội, thương binh và vũ khí qua sông Nhật Lệ an toàn.
MẸ SUỐT: TẤM LÒNG NGHỆN NGÀO BÊN BẾN SÔNG NHẬT LỆ VÀ HẢI TRÌNH TRÊN DÒNG SÔNG LỬA
Có những miền quê trên dải đất miền Trung nắng gió mà chỉ cần nhắc đến tên gọi, người ta đã nghe thấy tiếng sóng biển rì rào vỗ vào bờ cát trắng, nghe thấy cái nắng gắt gỏng của mùa hè chang chang cồn cát và cơn gió Lào thổi rát qua từng tán phi lao. Xã Bảo Ninh, nằm nép mình bên dòng sông Nhật Lệ xanh trong thuộc thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, từng trôi qua những năm tháng thanh bình và trầm lắng như một bức tranh thủy mặc của làng chài ven biển. Ở nơi ấy, những người phụ nữ cằn cỗi vì sương gió cả đời gắn chặt cuộc xới với chiếc ghe, đôi mái chèo và vị mặn mòi của muối biển. Nhưng khi bão táp của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tràn qua, biến dải đất Quảng Bình thành "tọa độ lửa" – nút giao thông sinh tử nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, một người mẹ chèo thuyền ở cái tuổi gần sáu mươi đã bước vào lịch sử. Mẹ Nguyễn Thị Suốt, bằng đôi bàn tay chai sần, tấm lưng gầy còm và một trái tim bao la tình thương dành cho những người lính ra trận, đã một mình đạp sóng dữ, dội qua mưa bom đạn dội để đưa hàng ngàn lượt bộ đội, thương binh và vũ khí qua sông Nhật Lệ an toàn.
Mẹ Nguyễn Thị Suốt sinh năm 1906 tại làng Phú Mỹ, nay thuộc xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một gia đình chài lưới nghèo khổ tột cùng, tuổi thơ và thời thanh xuân của mẹ trôi qua trong đắng cay, tủi nhục của kiếp người làm thuê ở mợ dưới thời phong kiến, thực dân. Suốt mấy mươi năm ròng rã, mẹ phải đi ở cho gia đình địa chủ, dầm mưa dãi nắng, làm đủ mọi công việc nặng nhọc từ gánh nước, dệt lưới đến chèo thuyền rẽ sóng ra biển khơi để đổi lấy từng bữa ăn đay nghiến. Những gian truân, vất vả của cuộc đời giông bão không làm cho tâm hồn người phụ nữ ấy trở nên xơ cứng, mà trái lại, nó hun đúc nên ở mẹ Suốt một sự nhẫn nại phi thường, một tình yêu quê hương da diết và một lòng căm thù giặc sâu sắc. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, mẹ hăng hái tham gia các công tác đoàn thể ở địa phương, sẵn sàng gánh vác mọi việc chung của xóm làng.
Bước sang những năm thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ liều lĩnh leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không quân và hải quân. Dải đất Quảng Bình – hẹp như một eo thắt ngực của Tổ quốc – trở thành mục tiêu đánh phá trọng điểm, gắt gao bậc nhất của không quân Mỹ. Chúng muốn biến nơi đây thành một vắt đứt sinh tử, trút xuống hàng ngàn tấn bom rải thảm, bom napalm, bom thủy lôi hòng san phẳng các tuyến đường, đánh sập các cây cầu và chặn đứng mọi sự tiếp viện cho chiến trường miền Nam ruột thịt. Trong bối cảnh đó, bến sông Nhật Lệ chảy qua Đồng Hới trở thành một điểm nút giao thông chiến lược. Mọi tuyến đường chở quân, chở lương thực và vũ khí từ miền Bắc vào Nam đều phải vượt qua dòng sông này.
Năm 1964, khi chiến tranh phá hoại của Mỹ đạt đến độ khốc liệt nhất, bến phà Nhật Lệ liên tục bị máy bay Mỹ dội bom oanh tặc ngày đêm. Cầu bị đánh sập, các phương tiện sang sông bị đánh phá tan tành. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, việc duy trì một bến phà dã chiến để đưa cán bộ, chiến sĩ và đạn dược qua sông trở thành nhiệm vụ sống còn. Mặc dù khi ấy đã ở cái tuổi sáu mươi – cái tuổi đáng lẽ được an hưởng tuổi già bên cháu con dưới mái nhà êm ấm – mẹ Nguyễn Thị Suốt đã tự nguyện tìm gặp chính quyền địa phương, tha thiết xin được đảm nhận nhiệm vụ chèo thuyền chở quân qua sông. Nhìn người mẹ già tóc đã điểm bạc, da dẻ đồi mồi nhưng đôi mắt rạng rỡ một quyết tâm sắt đá, chính quyền địa phương đã cảm động đồng ý giao cho mẹ chiếc thuyền gỗ nhỏ.
Từ ngày ấy, chiếc thuyền gỗ nhỏ bé của mẹ Suốt trở thành một chiếc cầu nối linh thiêng giữa hai bờ sông Nhật Lệ. Mỗi ngày, bất kể ngày hay đêm, bất chấp nắng cháy da hay gió bão mịt mùng, hễ có lệnh là mẹ lại lẳng lặng đẩy thuyền ra bờ nước. Dòng sông Nhật Lệ thời bấy giờ không còn là dải lụa xanh hiền hòa của những ngày thanh bình, mà nó đã biến thành một dòng sông lửa. Máy bay phản lực Mỹ gầm rít liên tục trên tầng không, rình rập từng vệt sóng nhỏ để trút đạn pháo và bom mù mạt. Bom nổ dội sóng dựng đứng thành những cột nước khổng lồ cao hàng chục mét, mảnh bom văng tạt rát mặt, khói bom khét lẹt trùm kín mặt sông.
Chùm ảnh tư liệu
1 / 2
Ảnh tư liệu của bài viết.
Giữa cái không gian khốc liệt ấy, hình bóng mẹ Suốt tay cầm chắc đôi mái chèo, tấm lưng tựa vào sóng dữ, đôi mắt tin anh rà soát từng khoảng trời vẫn hiện lên kiên cường như một tượng đài bằng thịt xương. Mẹ chèo thuyền bằng kinh nghiệm của một người con gái chài lưới trọn đời bám biển. Mẹ thuộc từng con nước, từng luồng gió, thuộc cả quy luật ném bom của máy bay địch. Có những lần máy bay Mỹ bất ngờ lao xuống trút bom ngay sát mạn thuyền, sóng dội nghiêng ngả như muốn nhấn chìm chiếc thuyền gỗ nhỏ xuống đáy sông. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, mẹ Suốt vẫn điềm tĩnh lạ kỳ. Mẹ ghì chặt tay chèo, lựa theo nhịp sóng để giữ cho thuyền không bị lật, vỗ về và động viên các chiến sĩ trẻ: "Các con cứ yên tâm, có mẹ đây rồi!".
Sự bình tĩnh và tình thương bao la của người mẹ già sáu mươi tuổi đã trở thành điểm tựa tinh thần kỳ diệu cho hàng ngàn người lính trẻ trước giờ bước vào chiến trường. Đối với mẹ Suốt, mỗi người chiến sĩ qua sông không chỉ là một người lính cách mạng, mà họ chính là những đứa con ruột thịt được mẹ sinh ra. Mẹ chăm xót họ từng ngụm nước ngọt, nhường từng củ khoai, cái bánh dã chiến, thức trắng đêm vá lại từng vạt áo đứt chỉ cho lính. Đêm đêm, khi tiếng bom tạm ngưng trên bến sông, dưới ánh ngọn đèn dầu giấu dưới lòng hầm, mẹ lại ngồi trò chuyện, lắng nghe những kỷ niệm quê hương của từng người lính trẻ. Sự dịu dàng, ân cần của mẹ như ngọn gió mát lành thổi qua tâm hồn những người con xa nhà, làm vơi đi nỗi nhớ quê hương và tiếp thêm cho họ sức mạnh quả cảm để thẳng tiến vào chiến trường miền Nam.
Người ta đã tính rằng, trong suốt những năm tháng từ 1964 đến 1967, bám trụ kiên cường trên bến sông Nhật Lệ, mẹ Nguyễn Thị Suốt đã chèo hàng ngàn chuyến thuyền, đưa hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ, thương bệnh binh và hàng tấn vũ khí, khí tài quân sự vượt qua dòng sông lửa an toàn. Chiếc thuyền gỗ nhỏ của mẹ dù nhiều lần bị găm vệt mảnh bom nhưng chưa một lần bị đánh chìm, và tất cả những chuyến hàng, chuyển quân do mẹ chèo lái đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Tấm lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm phi thường và sự hy sinh thầm lặng của mẹ Suốt đã trở thành một huyền thoại sống động, lan tỏa khắp hai miền Nam Bắc. Mẹ trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn học và nghệ thuật. Nhà thơ Tố Hữu trong một lần ghé thăm Quảng Bình, chứng kiến hình bóng người mẹ chèo thuyền giữa bão đạn, đã nghẹn ngào viết nên bài thơ bất tử "Mẹ Suốt". Những vần thơ da diết: "Gan chi gan rứa mẹ ơi / Bắt cầu giặc bắn, xô trời giặc giăng / Giờ đây thương mẹ biết chừng nào / Ngẩng đầu nhìn mẹ nhô cao..." đã tạc nên một bức chân dung kiêu hãnh về người mẹ Việt Nam anh hùng trong lòng hàng triệu độc giả.
Tháng 1 năm 1967, tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc, mẹ Nguyễn Thị Suốt vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lao động. Khi đứng trên bục vinh quang nhận danh hiệu giữa Thủ đô Hà Nội, người mẹ chài lưới nghèo khổ của vùng đất Bảo Ninh vẫn giữ nguyên sự mộc mạc, chân chất. Mẹ chia sẻ rằng chiến công của mẹ chỉ là một phần đóng góp nhỏ bé so với sự hy sinh vô bờ bến của biết bao chiến sĩ đang ngày đêm ngã xuống nơi tiền tuyến.
Sau khi nhận danh hiệu Anh hùng, dù tuổi tác đã cao, mẹ Suốt vẫn kiên quyết trở về Quảng Bình, tiếp tục bám sát bến sông Nhật Lệ, tay cầm chắc mái chèo đưa những đợt quân mới qua sông. Ngày 13 tháng 10 năm 1968, trong một đợt tập kích oanh tạc tàn khốc của máy bay Mỹ xuống khu vực bến phà Bảo Ninh, người mẹ anh hùng ấy đã hy sinh anh dũng ngay bên mạn thuyền thân thương của mình, khi tuổi đời vừa tròn sáu mươi hai. Mẹ ra đi giữa tiếng sóng rì rào của dòng sông Nhật Lệ, giữa vòng tay nghẹn ngào nước mắt của đồng bào và đồng chí.
Mẹ Nguyễn Thị Suốt đã đi xa, nhưng hình bóng người mẹ chèo thuyền dội sóng trên dòng sông Nhật Lệ năm xưa thì vẫn còn sống mãi với thời gian. Tượng đài Mẹ Suốt nghiêng mình bên bến sông Nhật Lệ hôm nay như một minh chứng bất tử cho khí phách kiên cường, tình yêu quê hương tha thiết và tấm lòng bao la của người phụ nữ Việt Nam thời hoa lửa. Cuộc đời mẹ là một bài thơ hùng mạc nhưng vô cùng dịu dàng, trôi qua từ những cồn cát nắng cháy Quảng Bình cho đến muôn đời sau, như một ngọn hải đăng soi sáng niềm tự hào và tình yêu Tổ quốc trong lòng thế hệ hôm nay.



