Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ THÌN VÀ HAI NGƯỜI CON KHÔNG TRỞ VỀ

Lời nhắn gửi đến tuổi trẻ: Lắng nghe, ghi chép và kể lại câu chuyện của các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là cách để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn, đồng thời nhắc nhở bản thân phải sống, học tập và cống hiến sao cho xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.

Hà Nội08/10/2026Đoàn phường Phú Thọ (Phường Phú Thọ)14 lượt xem0 lượt chia sẻ
MẸ THÌN VÀ HAI NGƯỜI CON KHÔNG TRỞ VỀ

MẸ THÌN VÀ HAI NGƯỜI CON KHÔNG TRỞ VỀ

(Chuyện về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thìn)

Ở làng Hạnh Đàn, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc xã Ô Diên, thành phố Hà Nội), những năm bốn mươi của thế kỷ trước, nhà nào cũng có ruộng và có khung cửi. Ban ngày người ta cấy hái ngoài đồng, tối về tiếng thoi đưa lách cách vọng ra từ những mái nhà tranh. Trong tiếng thoi ấy có tiếng khung cửi của mẹ Nguyễn Thị Thìn (1904-1988), một người đàn bà nông thôn tần tảo, sớm khuya gồng gánh nuôi bốn người con: một cô con gái lớn, hai cậu con trai là Nguyễn Đạt Lư và Nguyễn Đạt Linh, và cô út Nguyễn Thị Phúc, sinh năm 1943.

Câu chuyện về mẹ hôm nay được kể lại chủ yếu qua ký ức của bà Phúc, người con duy nhất còn lại của mẹ, hiện sống trong một căn nhà nhỏ trên phố Đội Cấn, Hà Nội. Ngày chiến tranh ập đến gia đình, bà mới là cô bé lên tám. Có những chi tiết đã nhòe theo năm tháng, nhưng hình ảnh người mẹ bên khung cửi thì bà nhớ mãi.

Sau Cách mạng Tháng Tám, rồi khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, hai người con trai của mẹ Thìn lần lượt đi theo cách mạng. Anh cả Nguyễn Đạt Lư sinh năm 1926, là một thanh niên có học, thạo tiếng Pháp. Để hoạt động bí mật trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm, anh lấy nghề thợ gò thiếc ở phố Hàng Mắm làm vỏ bọc. Mỗi lần các con đi công tác, mẹ lại lặng lẽ đùm cho nắm gạo, củ khoai. Mẹ không hỏi nhiều, chỉ dặn con giữ gìn sức khỏe.

Năm 1949, anh Lư bị địch bắt, giam ở bốt Phùng, đồn binh của quân Pháp mà người dân quanh vùng quen gọi là “cái đồn Tây”. Kẻ thù tra tấn anh hết trận đòn này đến trận đòn khác, nhưng không moi được lời khai nào. Theo lời kể của gia đình, trước lúc hy sinh, anh chỉ kịp nhắn lại với những người cùng bị giam: “Thôi các anh các chị ơi, giữ vững bản lĩnh nhé!”. Năm ấy anh mới 23 tuổi.

Ngày nhận tin con mất, mẹ Thìn không khóc thành tiếng. Bà Phúc nhớ rằng nỗi đau của mẹ như lặn hết vào trong. Mẹ cùng người bác ruột đi thuê thợ khắc một tấm bia đá nhỏ, rồi liều mình lên tận khu vực bốt Phùng, giữa vòng vây của giặc, để đặt tấm bia đánh dấu nấm mồ đất vùi xác con. Mẹ chỉ mong một điều: đến ngày hòa bình, mẹ sẽ lên đó đưa con về với quê nhà.

Nhưng mong ước ấy mẹ không bao giờ thực hiện được. Bom đạn và thời gian đã san phẳng bốt Phùng thành ruộng vườn, tấm bia và nấm mồ cũng không còn dấu vết. Suốt phần đời còn lại, mẹ day dứt vì để đứa con trai cả nằm lại một mình nơi đất lạnh. Phải đến năm 2012, tức 63 năm sau ngày anh Lư hy sinh và 24 năm sau ngày mẹ mất, con cháu trong nhà mới tìm thấy hài cốt anh dưới một vườn chuối và đưa anh về an táng tại nghĩa trang quê hương.

Vành khăn tang trên đầu mẹ chưa kịp cũ thì đúng một năm sau, nỗi đau thứ hai ập đến. Người con trai thứ hai, Nguyễn Đạt Linh, sinh năm 1929, khi ấy là tiểu đội trưởng, đang chuẩn bị lấy vợ. “Chỉ còn nửa tháng nữa là anh Linh cưới vợ. Mẹ tôi đã sắm sửa, chuẩn bị tươm tất mọi đồ sính lễ”, bà Phúc kể.

Ngày mồng 1 tháng 9 âm lịch năm 1950, anh Linh còn tạt về nhà ăn vội bữa cơm với bố mẹ. Ngay hôm sau, mồng 2 tháng 9 âm lịch, giặc mở một trận càn ác liệt. Để đưa những đồng đội bị thương và một em liên lạc nhỏ tuổi xuống hầm bí mật an toàn, anh Linh là người xuống hầm sau cùng. Khi địch lùng sục và phát hiện ra căn hầm, anh đã rút lựu đạn, chấp nhận hy sinh ngay dưới lòng hầm, quyết không để rơi vào tay giặc. Anh ra đi khi mới 21 tuổi, chưa kịp đón người con gái mình thương về làm dâu.

Hai người con trai, hai chỗ dựa vững chãi nhất của gia đình, lần lượt ngã xuống chỉ cách nhau một năm. Cô con gái lớn cũng mất sớm vì bạo bệnh. Căn nhà ở Hạnh Đàn bỗng trở nên trống trải, chỉ còn lại hai ông bà già yếu và cô con gái út còn nhỏ dại.

Bà Phúc kể rằng, những chiều nắng nhạt, mẹ thường mở chiếc hòm cũ, lấy bộ khăn nhung, chiếc áo dài và những món đồ sính lễ đã sắm cho anh Linh mang ra sân phơi. Mẹ vuốt ve từng nếp lụa, từng đường chỉ, không nói một lời. Nước mắt mẹ cứ thế rơi xuống nền gạch. Mẹ khóc cho những đứa con kiên trung, khóc cho người con dâu chưa kịp bước qua cửa, khóc cho một hạnh phúc đã không bao giờ thành.

Đau thương khiến ông bà ốm đau liên miên. Nhưng rồi chính tình yêu nước và nghĩa tình của những người ở lại đã giúp mẹ đứng dậy. Tiếng thoi đưa trên khung cửi nhà mẹ lại vang lên. Ngày các con còn sống, mẹ đùm gạo cho con mang đi hoạt động. Khi các con đã hy sinh, những nắm gạo ấy mẹ dành cho đồng đội của con.

Những người lính từng sát cánh với anh Lư, anh Linh thương ông bà mất con nên thường ghé qua thăm. “Cụ hiền lành và nhân hậu lắm, ai đến cũng giữ chặt tay, nhất quyết bắt ở lại ăn bữa cơm đạm bạc. Cụ chăm sóc họ như chính con ruột của mình”, bà Phúc nhớ lại. Có lẽ mỗi lần nhìn những chàng trai trạc tuổi con mình khoác ba lô bước vào sân, mẹ lại thấy bóng dáng anh Lư, anh Linh trở về.

Mẹ Thìn mất năm 1988. Mẹ ra đi khi vẫn chưa tìm được mộ người con trai cả. Tháng 12 năm 2016, mẹ Nguyễn Thị Thìn được Nhà nước truy tặng danh hiệu vinh dự “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”.

Câu chuyện của mẹ Thìn không có những trận đánh vang dội. Đó là câu chuyện của một người mẹ bình thường ở một làng quê đồng bằng Bắc Bộ, nơi trong những năm kháng chiến, nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa nuôi giấu cán bộ, đùm bọc bộ đội trước những cuộc càn quét khốc liệt của thực dân Pháp. Hàng vạn bà mẹ như mẹ Thìn đã lặng lẽ hiến dâng những đứa con yêu quý nhất cho Tổ quốc, rồi lại lặng lẽ chăm sóc những người lính khác như con đẻ của mình.

Cả cuộc đời mẹ là một bản hùng ca không lời, được dệt nên từ những sợi chỉ trên khung cửi, từ những nắm gạo nghĩa tình và từ những giọt nước mắt thầm lặng. Hôm nay, khi được sống trong hòa bình, chúng ta càng thấm thía rằng nền độc lập ấy được đánh đổi bằng máu của những người con như anh Lư, anh Linh và bằng nỗi đau không gì bù đắp được của những người mẹ như mẹ Nguyễn Thị Thìn.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn