Mẹ Trương Thị Tư – Người mẹ kiên trung
“Nước mắt mẹ không còn vì khóc những đứa con/
Lần lượt ra đi, đi mãi mãi...”. Những ca từ da diết trong bài hát “Người mẹ của tôi” của cố nhạc sĩ Xuân Hồng vẫn luôn khiến lòng người bồi hồi mỗi khi vang lên. Đó không chỉ là một giai điệu, mà còn là bản hùng ca về những người Mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong những tượng đài sống ấy, Mẹ Trương Thị Tư (xã Phú Hựu, tỉnh Đồng Tháp) là một biểu tượng của lòng kiên trung, bất khuất; một người phụ nữ đã nén nỗi đau riêng, hiến dâng những gì quý giá nhất cho độc lập dân tộc.
Người mẹ can trường
Đến ấp Phú Thạnh, xã Phú Hựu hỏi nhà Mẹ Trương Thị Tư (tên thường gọi là Tư Sang), bà con ở đây ai cũng biết, bởi công lao, sự cống hiến và hy sinh to lớn của mẹ cùng gia đình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong căn nhà ấm cúng treo 5 Bằng Tổ quốc ghi công, cùng nhiều Huân chương, Huy chương cao quý và danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thể hiện sự tri ân, ghi nhớ công ơn của Đảng, Nhà nước đối với gia đình có công với cách mạng.
Thắp nén hương trên bàn thờ gia tiên, ông Phạm Tấn Thành (67 tuổi), con út của má Tư, kể: “Ba má tôi có 10 người con. Ba tôi tham gia công an huyện, sau đó thoát ly, công tác tại hậu cần tỉnh Vĩnh Long. Còn má tôi vừa tham gia các phong trào ở địa phương, vừa đào công sự quanh nhà để nuôi giấu cán bộ bám trụ hoạt động. Biết ba tôi tham gia cách mạng nên địch treo thưởng lớn hòng bắt sống hoặc tiêu diệt”.
Để chồng an tâm công tác, má Tư cần mẫn lo việc đồng áng, nuôi các con khôn lớn. Ông Thành cho hay: “Các anh chị tôi khoảng 15 - 16 tuổi, má đều cho đi kháng chiến với mong muốn sớm giải phóng quê hương, đất nước”.
Được chi bộ giao phụ trách thu thuế, lúa gạo và các khoản đóng góp của nhân dân cho cách mạng, má kết nối với các cơ sở mật để mua thuốc men, dụng cụ y tế, nilon, vải, nhất là chà gạo cung cấp cho cách mạng. Bọn mật thám nghi ngờ, theo dõi nhưng má luôn khôn khéo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Bà Nguyễn Thị Pho, sinh năm 1958, ngụ ấp Phú Thạnh, cho biết lúc 14 tuổi bà thường theo má Tư đi xay gạo, sau đó đi tiếp tế cho bộ đội, lúc thì gạo, khi là tiền. Bà Pho nhớ lại: “Má Tư thường dạy tôi bình tĩnh, ngụy trang khéo léo khi làm nhiệm vụ. Khoảng 10 ngày má Tư đi xay gạo một lần, bọn địch nghi ngờ kiểm tra, đe dọa, má bình tĩnh đáp trả: tại nhà đông con nên xay nhiều gạo”.
Còn ông Nguyễn Văn Tư, cựu chiến binh xã Phú Hựu, kể: “Vùng này trước đây địch đóng nhiều đồn bốt, ta và địch bố trí xen kẽ, ngày địch, đêm ta. Chiến sự diễn ra ác liệt, cũng nhờ má Tư và nhân dân hết lòng đùm bọc, chở che, kịp thời cung cấp lương thực, thuốc men… giúp chúng tôi bám cơ sở hoạt động đến ngày đất nước thống nhất”.
Má Tư còn tích cực tham gia các phong trào do Hội Phụ nữ xã phát động như đấu tranh chống bắt lính, phá cầu đường... Có lần, má cùng chị em tham gia đấu tranh chính trị tại tỉnh Vĩnh Long và bị địch bắt, áp giải qua Cần Thơ. Tại đây, chúng dùng đủ chiêu trò từ dụ dỗ, mua chuộc đến uy hiếp, đánh đập.
“Không khai thác được gì, địch vẽ lên nón lá cờ ba sọc rồi thả về. Không nói một lời, má và các chị đồng loạt ném bỏ. Địch cay cú, tiếp tục vẽ cờ trên lưng áo, má cùng các chị vứt áo, quyết không để chúng đắc chí”, ông Thành tự hào kể về ý chí sắt đá và nghị lực can trường của má.
Càng hy sinh, càng cho đi đánh
Chiến tranh vốn dĩ gắn liền với những cuộc chia ly, nhưng với má Tư, nỗi đau ấy dường như đã vượt quá sức chịu đựng của một người phụ nữ. Năm 1963, đất trời như sụp đổ khi má nhận tin người con trai thứ 6 là anh Phạm Văn Vân, Trung đội phó cơ động tỉnh Vĩnh Long, đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau mất con khi tuổi đời còn xanh, cùng với nỗi xót xa vì không thể nhìn mặt con lần cuối, như nhát dao cứa thắt lòng má.
Thế nhưng, gạt đi những giọt nước mắt, má nén đau thương để trở thành điểm tựa vững chãi, tiếp tục động viên các con lên đường nối gót cha ông, quyết tâm trả nợ nước, thù nhà.
Thế nhưng, bão táp của chiến tranh vẫn chưa buông tha người mẹ ấy. Những năm 1969 - 1970, tin dữ liên tiếp dội về từ tiền tuyến: chồng và bốn người con của má đã lần lượt anh dũng hy sinh. Trong đó, xót xa thay, có cả người con rể và cô con gái thứ chín đang ở độ tuổi trăng tròn. Vượt lên nỗi đau tột cùng của người vợ mất chồng, người mẹ mất con, má nén đau thương vào trong, đôi bàn tay gầy nắm chặt với quyết tâm sắt đá: “Càng hy sinh, càng cho đi đánh”.
Năm 1973, người con thứ mười Phạm Trung Dũng cũng mãi mãi nằm lại mảnh đất Ngãi Tứ. Lần này, nhờ giao liên, má đã kịp gặp mặt anh lần cuối. Đứng trước linh cữu con, người mẹ gầy gò với gương mặt hằn sâu dấu vết thời gian không hề rơi lệ. Má lặng lẽ vuốt mặt con, thầm thì: “Thôi, nhiệm vụ của con đã xong thì con ra đi. Má còn nợ nước nhiều, má phải sống để lo cho cách mạng”.
Lời dặn dò gan góc ấy sau này được Thiếu tướng Phạm Phi Hùng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long, thuật lại đầy xúc động. Và cũng chính trong năm ấy, má tiếp tục tiễn người con út là Phạm Tấn Thành lên đường, chiến đấu cho đến ngày non sông thu về một mối.
Để ghi nhận những cống hiến, hy sinh vô bờ bến của má Tư cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho má Trương Thị Tư.
Tháng 7-2012, má mất. Cuộc đời má và sự hy sinh của gia đình đã trở thành một biểu tượng bất diệt về lòng yêu nước. Tấm gương kiên trung ấy không chỉ là niềm tự hào của quê hương, mà còn là nguồn cảm hứng thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, có trách nhiệm, quyết tâm xây dựng đất nước giàu mạnh để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.



