Khác

MẸ VÀ DÒNG SÔNG

Bài viết "Mẹ và dòng sông". Được trích trong cuốn "Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Bình Hòa (1930 - 2012)"

Vĩnh Long03/11/2025Xã đoàn Giồng Trôm (Xã đoàn Giồng Trôm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trước cửa nhà mẹ là dòng sông, hun hút từ đầu vàm chảy về chợ huyện Giồng Trôm. Ven sông, những đám lá dừa nước và những rặng bần bông trái quanh năm. Những buổi nước lớn, dòng sông mênh mông, trải rộng phơi bày tất cả nỗi niềm của mình như đời mẹ phơi gan, trải mật lo cho các đàn con và phong trào cách mạng ở làng quê trong những năm đầy khói lửa. Dòng sông Giồng Trôm, bắt nguồn từ những con rạch, len lỏi chạy vào những thửa vườn cây ăn trái. Mang phù sa vun đắp cho đời sống của cư dân quanh vùng Đông Ngô trù phú. Mỗi sáng, xuồng ghe tấp nập, bà con mang hàng thổ sản về chợ huyện và mua về những mặt hàng cần thiết để tiêu dùng.

Năm 1948, anh Bùi Văn Bê, con trai lớn của mẹ hy sinh trong một trận đánh với quân Pháp xâm lược lần thứ hai, thì ba năm sau, chồng của mẹ là Bùi Văn Phó, Bí thư chi bộ Bình Hòa lại bị kẻ thù sát hại. Anh Bùi Quang Đơ, người con trai thứ tư của mẹ là Vệ quốc đoàn, đánh trận ở thị xã Trà Vinh, bị địch bắt đưa đi tù. Anh tổ chức phá khám, vượt ngục ra vùng căn cứ của ta. Không biết sống chết ra sau, lòng mẹ đau sót khôn cùng. Không biết cách nào để thăm con khi mẹ đang làm nhiện vụ liên lạc cho hai đồng chí Đinh Văn Tấn và Hà Quang Xâm ở chi bộ xã Bình Hòa. Nhiệm vụ oằn vai, mẹ chăm sóc cho người con tật nguyền anh Bùi Văn Rô (Ba Phương) và hai đứa con còn thơ dại là Bùi Quang Tôn (tức Trần Đông Phong) và Bùi Ngọc Ẩn (Tức Hà Trung - sau đó thoát ly, công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam 2, còn gọi là Đài Giải phóng). Bấy giờ hai anh còn học ở trường làng. Gia đình mẹ Đỗ Thị Hai đang trong hoàn cảnh vô cùng gian nan, túng quẫn. Mẹ quay về cất tạm căn nhà lá cạnh ông bà ngoại. Đùm đeo với đứa con tật nguyền và hai con còn thơ dại. Vườn cây trái chẳng ai chăm sóc để cho trái, hằng ngày mẹ phải bươn chảy mua bán trên dòng sông Giồng Trôm chảy về chợ huyện để kiếm tiền nuôi con qua ngày. Vậy là mẹ phải xuôi ngược trên chiếc xuồng con, với chiếc đèn dầu che gió bằng mảnh mo cau, từ khuya đến trời chưa kéo mây ngang chờ hừng sáng. Khi ấy, lúc nào mẹ bận việc là anh Ba Rô (đã 18 tuổi) sẽ làm thay công việc liên lạc cho mẹ, do ông Năm Hoa và ông Đỗ Văn Trương phân công.

Mỗi đêm khuya tôi thức dậy học bài, nhìn dáng mẹ run run dưới chiếc xuồng với mãnh nón lá rách te tua bên ánh đèn nhạt nhoà. Tôi xót xa hiểu rằng một đêm mẹ chỉ ngủ được một vài tiếng giờ! Dường như mẹ thức ngủ, vui buồn với dòng sông này! Nhiều đêm nước sát kiệt, một mình mẹ còng lưng, hì hục đẩy xuống từ trong bến ra đến vàm sông để kịp mua hàng ra chợ. Những trận mưa dầm dề suốt đêm, mẹ vẫn bám lấy dòng sông này chẳng kể mưa gió, để tìm kế sinh nhai cho đàn con và các cháu trong đội du kích. Dòng sông cứ chảy mãi, chảy mãi mang phù sa về cho vườn cây như đời mẹ. Mẹ không buồn vì cảnh đời cơ cực, thân cò lặn lội, mà mẹ buổi vì binh lửa chiến tranh, chia cắt đôi nơi, cái chết xảy đến cho bất cứ ai không thể lường trước được.

Những đêm anh em du kích công đồn cầu Phước Thiện, cầu Bình Chánh, mẹ bồn chồn thức trắng, lo anh em "đằng mình" có mệnh hệ gì không. Năm 1953, du kích xã Bình Hòa phục kích đánh xe ở tỉnh lộ 26 (nay là đường tỉnh 885), trận ấy anh Lê Quang Chất hy sinh. Thi thể anh không thể đưa ra được. Anh đành nằm lại ở đám bắp ông Lê Văn Quyên (đoạn khu phố 3, thị trấn Giồng Trôm trước sáp nhập). Mẹ phải bươn bả tìm vào vùng địch, vận động cơ sở ta bí mật đưa anh Chất về chôn cất. trong thời gian này anh Mông trong hàng ngũ giặc, mang súng ra với cách mạng. Mẹ rất hoan nghỉnh tinh thần giác ngộ ấy. Mẹ hăm hở giúp đỡ từ bữa ăn đến việc công tác cho anh. Và, sau đó mẹ lo cả việc cưới vợ cho anh. Giai đoạn 1945, nhiều trận đánh để kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Như trận đánh tại đầu cầu Đông Ngô, trận du kích Bình Hòa đột nhập vào chợ Giồng Trôm, tìm giết tên Việt gian cai Đước. Mẹ cũng góp công trinh sát giặc... Cuối năm 1954, Cuộc đình chiến Đông Dương diễn ra. Nhân dân sống yên vui được vài tháng, kẻ thù bội ước Hiệp định Genève. Chúng đàn áp, khủng bố, trả gia đình nào có người theo kháng chiến.

Trong thời gian này, bọn tề ngụy Giồng Trôm tìm bắt anh Bùi Văn Rô (anh là đảng viên được điều ở lại sau Hiệp định genève năm 1954). Anh làm nhiệm vụ vận động thanh niên chống bắt lính. Kẻ thù kết tội anh thuộc thành phần “cộng sản nằm vùng", đem giam ở khám Chí Hòa tận Sài Gòn. Mẹ Đỗ Thị Hai phải tảo tần với dòng sông, vừa nuôi đàn con nhỏ dại vừa đi thăm anh, vừa lo cho anh em du kích. Mẹ còn làm vách đôi cho các anh trú ẩn để qua mắt giặc. Rồi mẹ lại đêm đêm tham gia đào hầm bí mật, hay canh giác cho các anh đến trắng đêm...

z7191399146306_04602cc3fbc4b3bf2584effdd013a35e.jpg

Mẹ VNAH Đỗ Thị Hai

Nhiều lần các anh, các chú Tư Liêm (Tư Chí), Trịnh Hoàng Hoanh, Nguyễn Tấn Phát (Tám Thư), Phạm Văn Bê (Năm Hậu).... ở Ba Tri lên ở Mỏ Cày qua, ở thị xã Bến Tre xuống (vì nơi đây là địa bàn hoạt động khá an toàn). Có người ở lại dâm ba bữa, có người bám trụ lâu dài. Cứ vậy mà luân phiên, mẹ và các con mình vừa bảo vệ vừa làm giao liên cho cách mạng ở địa phương.

Năm 1958, đỉnh cao của sự đàn áp, khủng bố của ngụy quyền Sài Gòn, rồi xuất hiện Luật 10/59 (loại cộng sản ra khỏi vòng pháp luật), mẹ vẫn ung dung, kiên trung phục vụ cách mạng. Bám lấy dòng sông làm kế sinh nhai. Những lần địch đánh hơi, đi xuồng qua sông, mẹ một lòng với bà con bảo vệ các anh các chú “nằm vùng”. Thêm một lần nữa lòng mẹ nặng trĩu nặng nỗi đau, bởi anh Ba Rô là cán bộ có nhiều tuổi Đảng bị địch bắt. Anh ở tù hai năm, được thả ra, quay về với chi bộ Bình Hòa. Anh Ba Côn và anh Chín Tân liền tổ chức đưa anh đi điều lắng nơi chùa Kim Sơn trên Sài Gòn. Khi anh quay về thì lao ngay vào lãnh đạo làm cuộc Đồng Khởi vang trời ở Bình Hòa.

Dòng sông Giồng Trôm thuở ấy như sống lại. Những rặng bần những dải dừa nước ven sông tươi xanh hao trái. Mẹ Đỗ Thị Hai được đứng vào hàng ngũ Đảng, là một niềm vinh dự lớn lao. Mẹ luôn biết ơn bà Huỳnh Mai, ông Võ Văn Thuần, hai người động viên mẹ vào Đảng. Mẹ thỏa lòng vì đã nối được ý chí của người chồng ngã xuống cho mảnh đất này. Nhưng có điều mẹ suy tư, không biết cuộc chiến khốc liệt này, mưu mô xảo quyệt của giặc, mẹ có làm tròn nhiêm vụ của một đảng viên. Mẹ nuôi dạy học hành nên người tốt. Và tất cả một lòng phụng sự cách mạng. Mẹ Đỗ Thị Hai, sinh hoạt chi bộ thị trấn Giồng Trôm mang tên: Quyết, Tâm, Chiến, Thắng. Mẹ mang Đảng danh là Quyết. Ông Võ Văn Nữa là Tâm, ông Phạm Văn Ký là Chiến và Ông Nguyễn Văn Thới là Thắng. Mẹ và những đồng chí đầu tiên ở chi bộ Bình Hòa ấy đều xứng đáng với truyển thống cách mạng của thị trấn Giồng Trôm và Bình Hòa. Mẹ là đảng viên nữ, nhưng mối quan hệ rộng khắp. Đồng thời rất có uy tín với giới nhân sĩ trí thức và các tầng lớp khác ở Giồng Trôm. Từ đó được tổ chức phân công vận động cách mạng ở nội thị.

Phong trào cách mạng ở thị trấn Giồng Trôm khi cao trào, khi tạm lắng, mẹ với các đồng chí của mình vẫn vững vàng bám trụ, Tiến công địch từng bước, xây dựng cơ sở cách mạng tại địa phương. Góp phần vận động nguồn kinh tài, rồi nguyên liệu, nhiên liệu, dược liệu, phương tiện thông tin,...cho lực lượng bên ngoài. Giai đoạn này, có một biến cố đến với đời mẹ, là anh Ba Rô - người con của mẹ đã hy sinh trong một trận càn, trước lúc hy sinh, anh dõng dạc mắng vào mặt kẻ thù “Nếu bọn bây có thả tao ra tao vẫn theo cách mạng. Vì anh em, họ hàng, làng xóm tao bọn bây sát hại, thì không lẽ nào tao tha bọn bây". Kẻ thù giết anh ngày 23/3/1962, tại ấp Kinh Trong. Lúc hy sinh anh đang giữ chức Bí thư chi bộ Bình Hòa. Anh là người góp phần đánh sập cầu Bình Chánh bằng bè dừa kết lại thả trôi theo con nước rong vào mùa Đồng khởi.

Bấy giờ mẹ càng bám lấy dòng sông để sinh tồn, nung nấu lòng thù hận. Cố gắng vun đắp cho phong trào cách mạng đi lên theo xu thế nổi dậy. Nhưng vào năm 1967, một lần nữa kẻ thù đã giết người con trai út của mẹ là anh Bùi Ngọc Ẩn, trong trận càn qui mô ở Lò Gò (Tây Ninh). Sau đó không lâu, do sơ xuất mẹ bị giặc bắt, rồi chúng giam giữ. Bọn cảnh sát quận Giồng Trôm tra tấn mẹ tàn nhẫn. Chúng buộc mẹ cung khai các đồng chí trong Cơ sở ở thị trấn Giồng Trôm và tôi là Bùi Quang Tôn (Trần Đông Phong). Tên cảnh sát đặc biệt Truyền, tay sai hung ác, tự xưng là bạn của con mẹ. Hắn nói "Mày có thằng con là Bùi Quang Tôn, là Huyện uỷ, làm tài chánh cho Việt cộng, mày phải khai nó ra. Nó là bạn học của tao". Mẹ kiên quyết không nhận. tên Truyền tức giận, dùng khăn đen trùm lên đầu mẹ, rồi đánh đập, nhưng mẹ không một lời khai báo. Mẹ giáng vào hắn một câu đến bẽ mặt “Nếu ông là bạn của con tôi thì tại sao ông xưng hô với mẹ của bạn mình là mày, tao! Và không bao giờ con tôi có một người bạn nhục nhã như ông". Hắn lồng lộn lên, toan đánh mẹ, nhưng có một tên cảnh sát đứng bên ngoài ngăn lại, và bảo “Mày thua rồi Truyền.... với dì Hai mà mày ăn nói quá đáng".

Biết chuyện, sau khi đất nước thống nhất, bà Mười Mai - người mẹ tội nghiệp của Truyền dẫn đến xin lỗi mẹ. Mẹ bảo: “Nó có tội với nhân dân, chờ nhân dân xử lý nó”. Mẹ còn nói với tên truyền: “thằng con tôi: Bùi Quang Tôn, đã về rồi, cậu lên thị xã Bến Tre mà bắt nó". Tuy vậy, mẹ lại mỉm cười độ lượng, khoan dung trước nét mặt tái mét, sợ hãi của Truyền. Mẹ tỏ thái độ như người mẹ đón đứa con lầm lạc trở về vậy.

Cũng dòng sông này, địch dùng xuồng nhỏ đánh biệt kích. Anh em cán bộ Bình Hòa đang sinh hoạt, bọn địch xuất hiện bên bờ rạch. Mẹ phát hiện, la to “lính tới”. Vậy là anh em chạy thoát. Bọn giặc xả súng theo, nhưng tất cả đã khuất dạng. Bọn lĩnh tức tối, quát vào mặt mẹ "tai sao bà nói lính tới". Mẹ "đánh trả một câu trêu chọc làm cho bọn lính tức giận đánh mẹ. Mẹ dõng dạc nói "thì mấy ông là lính tôi nói lính chứ tôi có nói quan làng gì đâu sao mấy ông đánh tôi". Mẹ rất hả hê về câu nói của mình. Và sau đó, điều vui mừng lớn nhất của mẹ là anh em đằng mình đều đã chạy thoát. Tình mẹ là vậy, mẹ đã lặng lẽ hy sinh dâng hiến cuộc đời cho kháng chiến. Dâng hiến người chồng kính quý, cùng những ba người con đã hy sinh và hai người thương binh cho công cuộc giải phóng dân tộc.. và mấy người em ruột và mẹ chồng cũng đã ngã xuống cho mảnh đất thân yêu này. Để tôn vinh cho sự cống hiến, sự hy sinh, mất mát vô cùng to lớn ấy, sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước xét trao bằng Huân chương Độc lập hạng II thật cao quý, vinh quang cho mẹ. Năm 2014, mẹ đã 55 tuổi Đảng. Đó là biểu tượng của tinh thần bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.

Ngày vĩnh biệt mẹ, dòng sông buồn nức nở. Dòng sông ôm mẹ vào lòng vỗ về, ru giấc ngàn năm và gói trọn câu nói của mẹ “phải chi tôi trao mấy bằng Tổ quốc ghi công lại được cho Nhà nước, còn giặc trả lại chồng con cho tôi thì đời tôi không phải đau thương chồng chất"...

Ngày 17/12/1994, mẹ được Chủ tịch nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng (mẹ của mẹ là Bà mẹ Việt Nam anh hùng và mẹ chồng của mẹ cũng là Bà mẹ Việt Nam anh hùng).

Trần Đông Phong

(nguyên Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương)

Sưu tầm: Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Bình Hòa (1930 - 2012)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn