Mẹ Việt Nam anh hùng
ẹ Bùi Thị Sẵng sinh năm 1898, tại An Nhơn Tây, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, mảnh đất kiên cường, địa đạo bí ẩn mà đế quốc Mỹ đã trải hàng trăm tấn bom vẫn không thể dập tắt được ngọn lửa yêu nước nơi lòng dân đất thép thành đồng. Mẹ cùng chồng là Phạm Văn Sô đã sinh ra bốn người con, trong số ấy mẹ đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ba chàng trai yêu nước. Bên cạnh đó, một con rể, một cháu nội và một cháu ngoại của mẹ cũng vĩnh viễn ra đi vì sự nghiệp cứu quốc. Phạm Văn Chuyển, người con đầu lòng của mẹ, gởi vợ con cho xóm làng, cầm tầm vông vạt nhọn lên đường từ năm 1945. Anh bị bắt, bị cầm tù ở Củ Chi, khi thả về tiếp tục thoát ly vào rừng làm cách mạng. Năm 1961, trong chuyến công tác trên sông Sài Gòn, Phạm Văn Chuyển bị địch ném bom, thi thể của anh hòa vào sông nước. Ngày anh Chuyển hy sinh (14-6-1961), mẹ đau thắt ruột gan, nhờ du kích xã chèo ghe chở mẹ đi dọc con sông để tìm xác con đem về. Bốn ngày đêm ròng rã, không ăn uống, mẹ ngất đi và đành phải trở về trong nỗi niềm thất vọng. Anh Chuyển có một đứa con trai, đứa con ấy theo nghiệp của cha tham gia cách mạng và cũng đã hy sinh. Cháu nội của mẹ được tặng thưởng ba huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì và Ba. Người con thứ hai của mẹ Phạm Văn Bực theo anh lên đường chống Pháp, làm cán bộ xã Đoàn được hai năm thì hy sinh. Mẹ không tìm được xác con, bởi Bực hy sinh tận Cầu Tàu, Bến Súc (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Mẹ chỉ biết con hy sinh qua giấy báo tử ghi ngày 24/4/1947.Người con út của mẹ, Phạm Văn Khứng hy sinh ngày 19/11/1970, lúc đang là Tiểu đội trưởng. Thi hài anh cũng hòa vào dòng sông Sài Gòn. Anh được tặng thưởng ba huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì và Ba Mẹ lại chèo đò đi tìm và lại thất vọng. “Ba lần tiễn con đi, ba lần khóc thầm lặng lẽ”. Nỗi đau của mẹ âm thầm cho đến cuối đời. Các con liệt sĩ của mẹ, chẳng ai được một nấm mồ. Cuộc đời của mẹ, đó là cuộc đời cống hiến cho Tổ quốc. Ngay bản thân mẹ cũng từng là người chắt chiu từng nắm gạo, bỏ vào hũ gạo nuôi quân để góp phần chuyển ra tiền tuyến. Mẹ là “người mẹ đào hầm”, là người tích cực tham gia đào từng đoạn địa đạo ở Củ Chi trong bóng đêm, để qua mắt kẻ thù. Ba lần dựng nhà, ba lần bị máy bay giặc đốt phá. Mẹbỏ nhà lang thang trong làng, rồi không thể ở được Củ Chi nữa, mẹ lên vùng Phú Thạnh (nay thuộc xã Phú Trung, huyện Tân Phú) sống cùng con gái, khẩn hoang xây dựng cuộc sống. Ở Tân Phú nhiều hôm mẹ thức trắng để trở lại Củ Chi móc nối cơ sở cách mạng, làm giao liên trao thư từ, tin tức. Ngày chị Lòng - con gái của mẹ mang thai con gái là Phạm Thị Toán (sau này là liệt sĩ), hai mẹ con lên Củ Chi biểu tình, giặc bắt mẹ nhốt một ngày mới thả, còn chị Lòng bị giặc đào lỗ úp bụng xuống đất mà đánh và chửi rủa: “Có thai sao không ở nhà dưỡng thai, lại theo Việt Cộng đi biểu tình”. Ngày nhận giấy báo tử của các con, mẹ chỉ nhìn, nhớ ngày, khóc cho con rồi đốt giấy đi chứ không dám giữ lấy làm vật kỉ niệm vì sợ bị địch biết con của mẹ là Việt Cộng. Nhà không dám đặt bàn thờ con, cúng con mẹ phải lén lút trong đêm vì sợ địch phát hiện. Chồng mất sớm, lúc đứa út mới vài tuổi. Mẹ ở vậy nuôi con, chấp nhận sự cô đơn để tiễn các con lên đường vì sự nghiệp dân tộc.Năm 1977, mẹ Bùi Thị Sẵng bệnh nặng qua đời. Mẹ vinh dự được nhận danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.



