Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Dìa (1910 – 1984) (1)
Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Dìa (1910 – 1984)
Mẹ Bùi Thị Dìa sinh năm 1910 tại làng Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là xã Tân Vĩnh Hiệp, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Mẹ lấy ông Lê Văn Chương, sinh hạ nhiều con, nhưng chỉ nuôi được đến tuổi trưởng thành hai trai, hai gái.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp mấy tháng, phong trào Thanh niên Tiền phong phát triển khắp Nam Bộ. Chồng mẹ cùng con trai lớn là Lê Văn Mộng (Tư Mộng, tức Mộng Linh) cùng hàng trăm trai tráng làng Tân Hiệp hăng hái luyện tập đội ngũ, tập võ, tham gia tuần tra canh gác xóm làng, dù ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một lính Nhật vẫn ngang nhiên đóng giữ.
Gần cuối tháng 8/1945, Thanh niên Tiền phong làng Tân Hiệp kéo nhau đi cướp chính quyền ở tỉnh lỵ, sau đó quay về lập ủy ban nhân dân xã làm chủ. Trong phong trào độc lập tự do ấy, người chồng, người con dân Tân Vĩnh Hiệp lao ra đường đấu với giặc Pháp quay lại tái xâm lược nước ta lần nữa. Ông Lê Văn Chương và anh Tư Mộng đều hy sinh trong năm 1946. Mẹ Bùi Thị Dìa, mẹ phải nuôi đàn con côi cút trong tội kháng chiến (thời kỳ bị tạm chiếm), gồng gánh, làm thuê nuôi con, nuôi cháu nội, đôi tay gầy gò nuôi quàng họ, mất mát, tủi nhục, mẹ vẫn nuốt nước mắt vào lòng, dắt díu đàn con chạy giặc càn bủa.
Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, đất nước ta tạm chia làm hai miền. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ hát càng thực dân Pháp, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện chiến lược chiến tranh một phía hòng tiêu diệt cách mạng miền Nam. Chúng mở nhiều chiến dịch tố cộng, diệt cộng, lập hàng ngàn nhà tù, trại giam khắp nơi hòng quét sạch Việt Cộng nằm vùng.
Anh Tư Mộng được cán bộ ta giáo dục, tham gia lực lượng mật địa phương đầu năm 1957. Đến năm sau (1958), địch hung bạo ác liệt hơn, chúng ra sức lùng bắt người kháng chiến cũ thì ông Lê Văn Chương và anh Lê Tùng Chinh (Năm Chinh) đều thoát ly, tham gia công tác mật. Mẹ Bùi Thị Dìa sống với con gái và bị địch kìm kẹp chặt, tuy vậy mẹ vẫn lén tìm cách tiếp tế và đi thăm chồng con ở căn cứ.
Sau Nghị quyết 15 của Trung ương, cao trào Đồng khởi lan rộng khắp nơi. Từ đầu tranh chính trị đơn thuần với nhiều tôn thất to lớn, nhân dân Tân Vĩnh Hiệp cũng như toàn quận Châu Thành (Bình Dương) đã dũng cảm đấu tranh kết hợp chính trị – vũ trang chống càn phá của địch.
Ông Lê Văn Chương, anh Tư Mộng, anh Năm Chinh khi đó tham gia lực lượng vũ trang nằm sâu trong rừng Thủ Dầu Một. Năm 1962, con gái mẹ Bùi Thị Dìa là Lê Thị Chính (Lê Ngọc Sương) cũng đi thoát ly, vào đội nữ du kích huyện và được các anh chị trong đơn vị giúp đỡ. Anh Tư Mộng là Trung đội phó đơn vị C.304 Thủ Dầu Một tham gia đánh trận nổi tiếng ở lưỡi Gò Mối ở đường 13, hy sinh anh dũng 8/2/1963 (tức nhằm đêm Quý Mão). Mất vị thế mẹ, mẹ mới nghe tin dữ; sống trong lòng địch, mẹ phải cố nén.
Nỗi đau không lộ ra ngoài. Thi thoảng móc được giao liên, mẹ đi thăm chồng và các con ở vùng căn cứ, dù đi lại khó khăn, vất vả. Mẹ là cơ sở mật nơi con gái (đã lấy chồng) cư ngụ. Ông Lê Văn Chương là trung đội phó phụ trách hậu cần huyện đội Châu Thành Thủ Dầu Một, tuy đã ngoài 60 nhưng vẫn hăng hái, xông xáo chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Như cơn thoi, ông cùng các đồng chí từ căn cứ xuống của khẩu và các địa bàn đại quân sẽ qua, các mục tiêu ta sẽ tiến công đều chuẩn bị trước về lương thực, thực phẩm, thuốc men, nơi đặt trạm phẫu...
Ngay đợt 1 Mậu Thân, ông tham gia giải quyết việc tải thương từ các chiến trường về căn cứ quân y Phân khu 5 ở Bàu Gốc (Bình Mỹ). Ngày 30/1/1968, ông hy sinh trong một trận địch pháo kích vào căn cứ này. Khi đón nhận tin này, mẹ Bùi Thị Dìa mù mịt ngất xỉu. Thế là mẹ đã mất hai người con trai, ba liệt khiến mẹ không thể đèn cắm nén nhang trên mộ người đã khuất.
Trưởng thành dần trong chiến đấu, chị Út Chính (Lê Ngọc Sương) được cử làm Huyện đội phó Châu Thành. Năm 1970, chị bị bắt, bị tra tấn dã man nhiều trại giam của địch (đến năm 1973 được trao trả ở Lộc Ninh). Mẹ Bùi Thị Dìa rất buồn và lo cho con gái, muốn đi thăm nuôi nhưng không biết chị ở đâu mà đi. Và lại, mẹ đã già (66 tuổi), thân yếu không đi, nên đành ngậm ngùi, ngồi, ngay sau đó có cán bộ huyện đội Châu Thành Thủ Dầu Một về báo, Huyện đội trưởng Huyện đội Châu Thành. Tháng 9/1972, anh em du kích xã Hiệp Tân (nay là phường Tân Hiệp) đánh địch ác liệt, diệt nhiều tên, mẹ mừng và cùng một số bà mẹ khác đi 4/9/1972 (27 tháng bảy năm Nhâm Tý). Bọn địch thu được một số giấy tờ, tài liệu, đã tiến hành phát loa nói bắt được anh và anh đã “về với chính nghĩa quốc gia”; chúng mạo lời anh để gọi hàng các anh em khác...
Sau ngày toàn thắng (30/4/1975), mẹ Bùi Thị Dìa mừng đón con gái út trở về, nhưng càng đau xót vì chồng và hai con trai vĩnh viễn nằm lại các chiến trường xa. Mẹ được tặng Huân chương Độc lập, hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước.
Năm 1984, mẹ đã gặp chồng và hai con trai ở cõi Vô cùng, hết cả một đời mong nhớ, đau thương, sầu khổ. Mẹ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 483/KTC-TN ngày 24/4/1995.



