Mẹ Việt Nam Anh Hùng Bùi Thị He
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị He sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, đông con tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Mẹ có tất cả 6 anh chị em, trong đó 2 người anh ruột là liệt sĩ, đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Gia đình mẹ thuộc thành phần bần nông, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng rẫy; ngoài ra, mẹ còn làm nghề cạo mủ cao su thuê cho đồn điền Đỗ Cao Lụa (nay là Nông trường Phạm Văn Cội) để mưu sinh và phụ giúp gia đình.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị He sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, đông con tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Mẹ có tất cả 6 anh chị em, trong đó 2 người anh ruột là liệt sĩ, đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Gia đình mẹ thuộc thành phần bần nông, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng rẫy; ngoài ra, mẹ còn làm nghề cạo mủ cao su thuê cho đồn điền Đỗ Cao Lụa (nay là Nông trường Phạm Văn Cội) để mưu sinh và phụ giúp gia đình.
Hai người anh liệt sĩ của mẹ là:
Liệt sĩ Bùi Văn Dốc (sinh năm 1913), công tác tại Ban Kinh tài xã Nhuận Đức, hy sinh năm 1970.
Liệt sĩ Bùi Văn Cá (sinh năm 1919), công tác tại Ban Kinh tài quận Củ Chi, hy sinh năm 1971.
Ngay từ khi còn rất trẻ, mẹ Bùi Thị He đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, mẹ tham gia làm liên lạc cho lực lượng dân quân ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức. Năm 18 tuổi, mẹ lập gia đình với ông Đặng Văn Gạo, quê tại ấp Gò Nổi, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi – một cán bộ cách mạng tích cực, tham gia hoạt động từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong suốt quá trình hoạt động, mẹ luôn là chỗ dựa vững chắc, tận tâm động viên, giúp đỡ chồng hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và cách mạng giao phó.
Năm 1940, mẹ chính thức tham gia đội du kích xã Nhuận Đức. Khi đó, mẹ đã có một người con là Đặng Văn Thóc. Trong cuộc đời mình, mẹ sinh được 7 người con (6 trai, 1 gái), gồm:
Đặng Văn Thóc, Đặng Văn Khổng, Đặng Thìn, Đặng Văn Lình, Đặng Thị Nàng, Đặng Văn Xình và Đặng Văn Nga.
Từ ngày tham gia cách mạng cho đến lúc hy sinh, mẹ Bùi Thị He luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tinh thần kiên trung, bất khuất của cha mẹ đã hun đúc nên lý tưởng sống cao đẹp cho các con. Noi gương cha mẹ, các con của mẹ đều xung phong tham gia hoạt động cách mạng, chiến đấu dũng cảm và lập nhiều chiến công.
Năm 1963, mẹ Bùi Thị He giữ chức vụ Trưởng ban Cán bộ Phụ nữ xã đồng thời là Trưởng ban Vận động biểu tình xã Nhuận Đức. Ngày 6/9/1963, mẹ dẫn đầu đoàn quần chúng tiến ra chợ Phú Hòa Đông (huyện Củ Chi) để đấu tranh chính trị với địch. Trong cuộc đấu tranh này, mẹ bị quân địch bắn trọng thương và hy sinh trên đường trở về nhà, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào, đồng chí và gia đình.
Mẹ Bùi Thị He có chồng và 3 người con trai là liệt sĩ, cụ thể:
Chồng mẹ – Liệt sĩ Đặng Văn Gạo: nhập ngũ năm 1939, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là Trưởng Ban Kinh tài Chi đội 6. Ông hy sinh ngày 20/3/1970 khi đang trên đường công tác thì rơi vào ổ phục kích của địch. Chức vụ trước lúc hy sinh: Trưởng Ban Quân nhu Quân khu 9.
Liệt sĩ Đặng Văn Thóc (con trai thứ hai), sinh năm 1940 tại xã Nhuận Đức, nhập ngũ năm 1959. Anh hy sinh ngày 5/9/1967 trong trận đánh xe tăng Mỹ. Chức vụ trước lúc hy sinh: Trưởng Ban Bảo vệ Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn – Gia Định.
Liệt sĩ Đặng Văn Khổng (con trai thứ ba), sinh năm 1943 tại xã Nhuận Đức, nhập ngũ năm 1962. Anh hy sinh tháng 1/1968 khi ôm bộc phá tấn công sân bay Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai). Chức vụ trước lúc hy sinh: Tiểu đội trưởng, đơn vị Công trường 9.
Liệt sĩ Đặng Văn Lình (con trai thứ năm), nhập ngũ năm 1960, hy sinh năm 1967. Chức vụ trước lúc hy sinh: Tiểu đội trưởng, đơn vị Tiểu đoàn Vinh Quang – Khu Sài Gòn, Gia Định (Biệt động Thành).
Ngoài chồng và các con, mẹ Bùi Thị He còn có hai người anh ruột cũng là liệt sĩ, gồm:
Liệt sĩ Bùi Văn Dốc (sinh năm 1913), tham gia kháng chiến từ năm 1945, nguyên là cán bộ Ủy ban Kháng chiến xã Nhuận Đức, sau làm Trưởng Ban Kinh tài xã. Ông hy sinh ngày 27/8/1969 khi đang họp bàn kế hoạch công tác thì bị pháo địch bắn trúng.
Liệt sĩ Bùi Văn Cá (sinh năm 1919), tham gia kháng chiến từ năm 1945, từng là Xã đội trưởng xã Nhuận Đức, sau chuyển công tác về huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông hy sinh năm 1970 tại Đồng Ớt, xã Lộc Thuận, huyện Trảng Bàng.
Nguồn: Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ



