Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè
Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè
Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè (còn gọi là Năm Mè), sinh ngày 26/6/1921 - mất ngày10/3/2014) tại xã Quới An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, trú tại số 3 Phùng Khắc Khoan, phường Đa Kao, Quận 1- TP Hồ Chí Minh.
Năm 1946, khi thực dân Pháp bội ước trở lại xâm chiếm Nam Bộ, đôi vợ chồng trẻ Nguyễn Văn Nhơn - Bùi Thị Mè với danh nghĩa là những thương gia, đã có những hoạt động hợp pháp ủng hộ kinh tế cho cuộc kháng chiến. Năm 1950, gia đình bà bắt tay vào mở một trường trung học tư thục ở xã Long Đức, quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, do bà làm Hiệu trưởng. Với bề ngoài là một trường trung học để tránh con mắt dò xét của mật thám Pháp, nhưng bên trong trường là một cơ sở hợp pháp của Tỉnh ủy Trà Vinh. Năm 1955, Tỉnh ủy Trà Vinh bố trí bà làm Chủ tịch Hội Phụ nữ giải phóng của tỉnh và là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Chẩn tế - xã hội tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian từ năm 1950 đến 1957 bà hoạt động hợp pháp dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Trà Vinh. Bà là một trong những người có uy tín để tiếp xúc với nhiều đối tượng như trí thức, thương gia, các tầng lớp xã hội khác để vận động họ ủng hộ phong trào kháng chiến.
Năm 1957, bọn địch nghi ngờ cơ sở của bà, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh đóng cửa trường Trung học tư thục do bà làm Hiệu trưởng với lý do Hiệu trưởng thân “Cộng”, toàn Ban giáo sư thân “Cộng”, dạy đường lối chống Chính phủ. Do khôn khéo, thông minh bà về Sài Gòn gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm để chất vấn, tố cáo chính quyền địa phương (lúc đó bà vẫn chưa bị lộ). Mục đích của bà là gây mâu thuẫn giữa Bộ Giáo dục và chính quyền của chế độ Ngô Đình Diệm tại địa phương để tạo cho mình một thế hợp pháp. Bà đấu tranh thắng lợi nhưng phải lên Sài Gòn tiếp tục dạy học và hoạt động trong giới trí thức.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, được Tỉnh ủy Trà Vinh giới thiệu, bà vào công tác ở Khu uỷ Khu Tây Nam Bộ, với cương vị là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Tây Nam Bộ.
Năm 1964, bà được Trung ương Cục miền Nam điều về công tác ở Bộ phận Tuyên truyền đối ngoại của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, sau đó bà được tổ chức bố trí sang công tác ở Ban Phụ vận.
Năm 1965, tại Đại hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, bà được bầu vào Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Giải phóng, đồng thời được phân công kiêm nhiệm là Phó Chủ tịch Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam Việt Nam.
Trước tình hình phát triển của cách mạng miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập vào năm 1969 do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch. Bà được phân công giữ chức Thứ trưởng Bộ y tế - Xã hội - Thương binh, chuyên trách công tác xã hội thương binh của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Năm 1974, bà được Trung ương Cục cử ra Hà Nội dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam. Tại đây, bà đã tiếp xúc với nhiều đoàn phụ nữ quốc tế. Với vốn tiếng Pháp, cộng với sự thông minh nhanh nhẹn của một nhà giáo, bà đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho các đoàn phụ nữ Liên Xô, Cu Ba, Angiêri. Qua bà và các đại biểu phụ nữ ở Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bạn bè quốc tế hiểu thêm về cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam anh hùng, bất khuất đang đấu tranh giành độc lập tự do. Sau Đại hội, bà được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, được Trung ương Hội cử đi dự Đại hội Phụ nữ ở Angiêri, Cu Ba. Tháng 1/1974, bà gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau ngày nước nhà được thống nhất, theo yêu cầu của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Bà về công tác ở Hội Chữ thập đỏ thành phố chăm lo mạng lưới Chữ thập đỏ, hỗ trợ cho công tác thương binh xã hội của thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 10/1979, bà được Nhà nước cho nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy đã nghỉ hưu nhưng bà vẫn là một thành viên rất tích cực trong công tác dân vận tuyên truyền đối ngoại ở thành phố.
Bà là một trong những người phụ nữ đã chịu đựng nhiều hy sinh qua hai cuộc chiến tranh. Trong 4 người con của bà đi tham gia kháng chiến, ba người con là liệt sĩ, một là thương binh. Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và tặng thưởng nhiều Huân huy chương:
Huân chương Độc lập hạng ba.
Huân chương Độc lập hạng hai
Hai Huân chương Giải phóng hạng nhất và hạng nhì.
Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
Huân chương Giải phóng hạng hai
Huân chương Quyết thắng hạng nhất.
Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng


