Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè
Trong những trang sử bi tráng của dân tộc Việt Nam, có những con người bình dị mà vĩ đại, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cách mạng và cho nhân dân. Trong đó bà là một trong những nhân vật để lại dấu ấn sâu sắc nhất đố với em bà chính là. Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè, còn gọi là Năm Mè, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của tinh thần kiên trung, bất khuất của người phụ nữ Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến. Bà sinh ngày 26/6/1928 trong một gia đình trí thức ở miền Nam. Cha là ông Bùi Văn

Trong những trang sử bi tráng của dân tộc Việt Nam, có những con người bình dị mà vĩ đại, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cách mạng và cho nhân dân. Trong đó bà là một trong những nhân vật để lại dấu ấn sâu sắc nhất đố với em bà chính là. Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè, còn gọi là Năm Mè, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của tinh thần kiên trung, bất khuất của người phụ nữ Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến. Bà sinh ngày 26/6/1928 trong một gia đình trí thức ở miền Nam. Cha là ông Bùi Văn Tám và mẹ là bà Võ Thị Quý.Ngay từ nhỏ, mẹ được cha mẹ giáo dục tinh thần thương dân, trọng nghĩa và cảm nhận rõ nỗi đau mất nước nên sớm hình thành lòng căm thù giặc sâu sắc.
Được cha mẹ cho học hành chu đáo, Mẹ Mè sớm bộc lộ trí thông minh và tinh thần ham học. Sau khi học tiểu học ở Cái Nhum, bà lên Vĩnh Long theo học trường Nữ học đường, thi đỗ nội trú và lấy bằng Thành chung sau bốn năm. Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhơn, một giáo chức tận tâm, và cuộc sống của hai người sớm gắn liền với con đường cách mạng.
Năm 1946, khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm Nam Bộ, vợ chồng bà với danh nghĩa thương nhân đã hoạt động hợp pháp để bí mật ủng hộ kinh tế cho cuộc kháng chiến. Khi Bến Tre bị địch chiếm, gia đình bà chuyển sang Bãi Xan (Trà Vinh) tiếp tục tham gia cách mạng. Vì các con còn nhỏ, bà không thể thoát ly vào chiến khu nên tìm cách liên hệ Tỉnh ủy Trà Vinh, hoạt động dưới hình thức hợp pháp. Năm 1950, bà mở trường Trung học tư thục tại Long Đức (Trà Vinh), bà làm Hiệu trưởng. Trường tồn tại như một cơ sở hoạt động bí mật của Tỉnh ủy, góp phần tuyên truyền và vận động yêu nước trong nhân dân.
Đến năm 1955, bà được phân công giữ chức Tổng Thư ký Hội Phụ nữ yêu nước tỉnh Trà Vinh và tham gia Ban Chấp hành Hội Chẩn tế – Xã hội của tỉnh. Nhờ kiến thức rộng, tác phong mềm mỏng và sự khôn khéo, bà trở thành người có uy tín, dễ dàng tiếp cận trí thức, thương gia và nhiều tầng lớp khác để vận động họ ủng hộ phong trào cách mạng. Khi địch nghi ngờ và ra lệnh đóng cửa trường, bà bình tĩnh tìm cách gây mâu thuẫn giữa Bộ Giáo dục chính quyền Ngô Đình Diệm và chính quyền địa phương để giữ thế hợp pháp, tiếp tục hoạt động an toàn.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1960, sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời, bà được giới thiệu vào công tác tại Khu ủy Tây Nam Bộ và trở thành Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ năm 1964, bà được rút về Trung ương Cục miền Nam, tham gia Ban Tuyên huấn rồi Ban Phụ vận, phụ trách công tác đối ngoại, vận động phụ nữ và phát triển phong trào yêu nước. Tại Đại hội Phụ nữ Giải phóng năm 1965, bà được bầu vào Ban Chấp hành của Hội và kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam.
Năm 1969, khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được phân công giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế – Xã hội – Thương binh. Suốt giai đoạn 1969–1976, bà trực tiếp xuống cơ sở, chăm lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ, chỉ đạo các hoạt động y tế – xã hội trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Với sự giản dị, nhân hậu và quyết đoán, bà tạo được lòng tin yêu của đồng bào và đồng chí. Năm 1974, bà được cử ra Hà Nội dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam và làm việc với nhiều đoàn phụ nữ quốc tế, góp phần giúp bạn bè năm châu hiểu rõ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Tháng 1/1974, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Những mất mát mà mẹ phải trải qua vô cùng lớn lao. Trong chiến tranh, nhiều người thân của mẹ lần lượt hi sinh ,ba người con trai của bà đã hy sinh trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 và một người con khác trở thành thương binh. Nhưng nỗi đau ấy không làm mẹ lùi bước; ngược lại, càng hun đúc thêm ý chí kiên cường của mẹ. Với mẹ, sự hi sinh của gia đình chính là minh chứng cho lòng yêu nước bất diệt và cho niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Sau năm 1975, bà tiếp tục cống hiến khi giữ chức Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP. Hồ Chí Minh, dành tâm huyết chăm sóc người nghèo, thương binh và nạn nhân chiến tranh.
Suốt cuộc đời, Mẹ được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (năm 1994), Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương khác. Mẹ Bùi Thị Mè qua đời tháng 3/2014, để lại tấm gương sáng về khí phách, trí tuệ và tình yêu nước bất khuất của người phụ nữ miền Nam trong hai cuộc kháng chiến.
Hình ảnh Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè mãi mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước, đức hi sinh và phẩm chất kiên trung của người phụ nữ Tây Nam Bộ. Câu chuyện của mẹ không chỉ là niềm tự hào của quê hương, mà còn là nguồn cảm hứng để mỗi chúng ta sống tốt hơn, biết trân trọng hòa bình và tiếp bước truyền thống hào hùng của dân tộc.



