MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG ĐỖ THỊ NGA-HÒA LỘC
Mẹ Đỗ Thị Nga sinh năm 1913 tại xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Mẹ kết hôn với ông Đặng Văn Tân, sinh năm 1911, quê ở ấp Hòa Thuận I, xã Hòa Lộc. Vợ chồng Mẹ có tám người con gồm hai trai và sáu gái. Trong mái ấm gia đình giàu truyền thống yêu nước ấy, các con đều được giáo dục tinh thần cách mạng và lần lượt tham gia kháng chiến bảo vệ quê hương. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, từ những năm 1940, ông Đặng Văn Tân tham gia tổ chức Thanh niên cứu quốc. Mẹ Đỗ Thị Nga c
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG ĐỖ THỊ NGA – NGƯỜI MẸ DÀNH TRỌN CUỘC ĐỜI CHO CÁCH MẠNG
Trên mảnh đất anh hùng Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, câu chuyện về Mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Nga luôn được nhắc đến với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc. Cuộc đời của Mẹ là biểu tượng cho lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần kiên trung của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh gian khổ.
Mẹ Đỗ Thị Nga sinh năm 1913 tại xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Sinh ra trong thời kỳ đất nước còn chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, Mẹ sớm chứng kiến cảnh nhân dân lầm than, cực khổ. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong Mẹ tinh thần yêu nước và ý chí tham gia cách mạng từ rất sớm.
Mẹ kết hôn với ông Đặng Văn Tân, sinh năm 1911, quê ở ấp Hòa Thuận I, xã Hòa Lộc. Vợ chồng Mẹ có tám người con gồm hai trai và sáu gái. Trong mái ấm gia đình giàu truyền thống yêu nước ấy, các con đều được giáo dục tinh thần cách mạng và lần lượt tham gia kháng chiến bảo vệ quê hương.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, từ những năm 1940, ông Đặng Văn Tân tham gia tổ chức Thanh niên cứu quốc. Mẹ Đỗ Thị Nga cũng tích cực hoạt động trong Hội Phụ nữ xã, vận động bà con đóng góp lương thực, chăm lo hậu cần phục vụ bộ đội Việt Minh. Hưởng ứng phong trào “Tuần lễ vàng”, Mẹ đã tự nguyện hiến tặng nhiều nữ trang quý giá của gia đình để ủng hộ quỹ kháng chiến.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Đặng Văn Tân giữ chức Trưởng Ban An ninh xã Hòa Lộc và tham gia công tác công an huyện Mỏ Cày. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, chồng và các con của Mẹ tiếp tục hoạt động bí mật trong lực lượng cách mạng. Một mình Mẹ phải vừa nuôi con, vừa tản cư tránh địch, vừa làm hậu phương vững chắc cho gia đình tiếp tục kháng chiến.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1947 đến năm 1964, Mẹ lần lượt tiễn các con lên đường tham gia cách mạng. Dù biết phía trước là hiểm nguy, Mẹ vẫn động viên con giữ vững lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Nỗi đau lớn nhất của cuộc đời Mẹ bắt đầu vào những năm tháng chiến tranh ác liệt. Tháng 9 năm 1967, người con út là chị Đặng Ngọc Sương, sinh năm 1951, tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương và phong trào thanh niên học sinh, đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Tiếp đó, người con trai là anh Đặng Trung Liệt, bí danh Quốc Lâm, sinh năm 1945, tham gia Tiểu đoàn 263 tỉnh rồi chuyển về bộ đội chủ lực Miền Nam thuộc Sư đoàn 9. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, anh cùng đồng đội chiến đấu tại Sài Gòn và anh dũng hy sinh khi đang giữ cương vị Trung đội phó. Anh được Nhà nước truy tặng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba.
Chưa nguôi nỗi đau mất con, chỉ mười ngày sau, chồng Mẹ là ông Đặng Văn Tân tiếp tục hy sinh trong một trận càn của địch khi đang bảo vệ tài liệu cách mạng. Dù bị thương nặng, ông vẫn chiến đấu đến giây phút cuối cùng, trên tay vẫn còn cầm quả lựu đạn. Sau này, ông được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Trải qua những mất mát to lớn ấy, Mẹ Đỗ Thị Nga vẫn kiên cường vượt qua đau thương, tiếp tục lao động sản xuất, nuôi giấu cán bộ và đóng góp cho cách mạng. Mẹ lặng lẽ chịu đựng mọi đau thương riêng để tiếp tục làm tròn trách nhiệm với quê hương, đất nước.
Ghi nhận những hy sinh và cống hiến to lớn của Mẹ và gia đình đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, ngày 17 tháng 12 năm 1994, Nhà nước đã phong tặng Mẹ danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Tháng 5 năm 2001, Mẹ Đỗ Thị Nga qua đời, hưởng thọ 88 tuổi. Cuộc đời của Mẹ là bản anh hùng ca về lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Những đóng góp của Mẹ và gia đình đã góp phần làm nên hòa bình, độc lập cho dân tộc hôm nay.



