Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam anh hùng Hà Thị Ái

Hưng Yên31/12/2025THPT Khoái Châu (Xã Khoái Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Hà Thị Ái(1902 - 1976), quê quán tại thôn Khuốc Bắc, xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình(nay là thôn Khuốc Bắc, xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên. Mẹ có 5 người con (3 người con trai, 2 người con gái). Trong đó, hai người con trai của Mẹ đã anh dũng hy sinh là liệt sĩ Đặng Văn Roạt hy sinh năm 1953 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và liệt sĩ Đặng Văn Đấu hy sinh năm 1974 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuộc đời mẹ là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, đức hy sinh thầm lặng, chịu đựng gian khổ vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Với những hy sinh, cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Mẹ Hà Thị Ái đã được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo Quyết định số 955/QĐ-CTN ngày 05 tháng 6 năm 2025.Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Trần Chí Thiết, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Mẹ Hà Thị Ái, gửi lời tri ân tới toàn thể thân nhân gia đình Mẹ. Đồng chí khẳng định: Đảng bộ và chính quyền xã nhà nguyện tiếp tục làm tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm lo đời sống người có công với cách mạng, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ, để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các Anh hùng liệt sĩ và các Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Lễ truy tặng danh hiệu là sự ghi nhận, tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với công lao to lớn, sự hy sinh thầm lặng của Mẹ Hà Thị Ái – người Mẹ đã hiến dâng những người con thân yêu cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây cũng là dịp để tiếp tục khơi dậy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, nêu cao tinh thần trách nhiệm, Mẹ Hà Thị Ái sinh năm 1902, mất năm 1976, quê quán tại thôn Khuốc Bắc, xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình cũ, nay thuộc xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên. Cuộc đời mẹ là tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự hy sinh thầm lặng và tinh thần kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thanh

Mẹ Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1937, ở phường Quảng Thịnh. Năm nay, mẹ Thanh tròn 85 tuổi, đôi mắt đã mờ, mái tóc đã bạc, trí nhớ giảm sút. Thế nhưng, ký ức về ngày chồng và con trai hy sinh thì mãi in đậm trong tâm trí mẹ không thể phai mờ. Mẹ có bốn người con, trong số đó, người con trai cả đã mãi nằm lại nơi chiến trường biên giới xa, đến nay vẫn chưa tìm thấy phần mộ. Hiện tại, mẹ sống cùng người con trai thứ ba, người luôn bên mẹ những năm tháng về già, lặng lẽ chăm sóc, lắng nghe mẹ nhắc lại những câu chuyện của một thời không ngủ yên.

Năm 1972, tin chồng hy sinh nơi chiến trường Trường Sơn như một nhát dao xoáy vào lòng người phụ nữ trẻ. Mẹ không gục ngã. Gạt nước mắt, mẹ siết chặt đàn con trong vòng tay gầy guộc rồi bước tiếp. Vừa đứng lớp, vừa cuốc đất, cấy lúa; vừa làm mẹ, vừa làm cha. Mỗi đêm, căn bếp nhỏ chỉ le lói ánh lửa, mẹ ru con bằng những câu hát gióng lên từ nỗi niềm người quả phụ. Tháng năm trôi qua, vóc dáng mẹ nhỏ lại, đôi tay sạm đen, ánh mắt vẫn lấp lánh thứ ánh sáng kiên cường của người đàn bà đã đi qua mất mát lớn lao nhất đời người.

Chưa kịp nguôi ngoai nỗi đau mất chồng, thì con trai cả Nguyễn Tam Hùng đến tuổi trưởng thành, viết đơn tình nguyện ra biên giới Tây Nam, rồi sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế. Mẹ không ngăn - cũng như bao người mẹ Việt Nam khác đã dứt ruột tiễn con lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Nhìn dáng con trong quân phục hôm lên đường, mẹ mừng mừng tủi tủi, tự hào xen lẫn lo âu.

Năm 1986, anh hy sinh khi mới 27 tuổi. Mẹ chỉ nhận được một tờ giấy báo tử. Không có ảnh, không có địa chỉ an táng. Gần bốn mươi năm trôi qua, mẹ vẫn không biết con nằm đâu chỉ nghe người ta nói, đâu đó giữa vùng biên giới Tây Ninh - Campuchia. Nhiều đêm, mẹ ngồi một mình, lần giở từng trang danh sách liệt sĩ bằng đôi tay run run. Như thể chỉ cần thấy tên con hiện lên, mẹ sẽ được an ủi phần nào, dù chỉ là trong khoảnh khắc ngắn ngủi.

Không gian sống của mẹ thanh đạm. Bàn thờ luôn thơm mùi trầm ấm. Trên đó là hai bức ảnh đen trắng đã ngả màu của chồng và con được mẹ lau chùi cẩn thận mỗi ngày. Một người nằm lại Trường Sơn, một người chưa có mộ. Có thời gian, năm nào mẹ cũng bắt xe vào Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn thăm chồng. Nhưng vài năm gần đây, sức khỏe yếu dần, mẹ chỉ còn biết đứng trước bàn thờ, thầm gọi ông mỗi chiều. “Mẹ không mong ông về. Mẹ muốn ông ở lại đó, cạnh đồng đội, nơi ông đã nằm xuống vì đất nước”, mẹ nói, ánh mắt đượm buồn nhưng ngời lên một niềm kiêu hãnh.

Bữa cơm của mẹ đạm bạc, chỉ bát canh rau, đĩa cá kho. Nhưng trên mâm cơm ấy, ký ức vẫn hiện diện như một người bạn đồng hành. Mẹ kể chuyện ngày xưa, giọng khi mạch lạc, khi đứt quãng. Con cháu đã quen với việc nghe mẹ kể đi kể lại một kỷ niệm, hay quên mất hôm nay là thứ mấy. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi có ai đó nói đến hai chữ “hy sinh”, mẹ lại lặng người thật lâu, rồi gật đầu, thật chậm, thật sâu.

Còn trong ngăn kéo nhỏ bên giường, mẹ giữ lại vài kỷ vật của con trai cả: Chiếc áo len đã sờn vai, chiếc khăn đã ngả màu. Không nhiều, nhưng đó là tất cả để mẹ níu giữ hình bóng của một người đã mãi mãi không về.

Khu phố nơi mẹ sống chan hoà tình thân, như cảm nhận của chúng tôi ban đầu - mà ở đó có tấm lòng của một người Mẹ Việt Nam Anh hùng. Người dân quen gọi mẹ là “cụ Thanh”, hay “mẹ Thanh liệt sĩ”. Ai cũng biết mẹ không chỉ là người mẹ thời chiến, mà còn là người luôn nghĩ đến đồng đội của chồng, của con. Mỗi dịp tết, mẹ lại lặng lẽ dành phần quà của mình gửi đến những gia đình thương binh, liệt sĩ khác trong khu phố. Cứ như thể, mẹ không bao giờ cho phép mình quên và nhắc mọi người đừng lãng quên vun đắp cho hoà bình, hạnh phúc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn