Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG HỒ THỊ ĐÀO

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam đã thể hiện tinh thần "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Họ không chỉ là hậu phương vững chắc, chỗ dựa tinh thần cho chồng, con nơi tiền tuyến mà còn trực tiếp tham gia cách mạng, công hiến hết mình vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.

An Giang22/08/2026Xã Châu Phú (Đoàn xã Châu Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc
Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ
Việt Nam đã thể hiện tinh thần "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Họ không chỉ là hậu phương vững chắc, chỗ dựa tinh thần cho chồng, con nơi tiền tuyến mà còn trực tiếp tham gia cách mạng, công hiến hết mình vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.
Một trong những tấm gương tiêu biểu ấy là Mẹ Hồ Thị Đào. Mẹ sinh năm 1916 tại thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Chồng và hai con trai của Mẹ đều đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Ghi nhận công lao to lớn ấy, ngày 06/3/1988, Đảng và Nhà nước đã phong tặng Mẹ danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".
Những năm tháng hoạt động cách mạng
Từ năm 1945, Mẹ cùng chồng là ông Huỳnh Văn Công tham gia đội thông tin tuyên truyền cách mạng. Đến tháng 11/1947, khi Chi bộ thị trấn Tri Tôn được thành lập, do đồng chí Trần Hữu Lộc làm Bí thư cùng một số đảng viên như: Hứa Trường Long, Hà Trường Xuân, Huỳnh Văn Công, Hồ Ngọc Bổn. Chi bộ phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh vũ trang và chính trị trên địa bàn thị trấn.
Mẹ Hồ Thị Đào được phân công phụ trách Hội Phụ nữ cứu quốc, với trách nhiệm và lòng nhiệt tình cách mạng, Mẹ đã phối hợp cùng các đồng chí trong Chi bộ tổ chức đấu tranh kết hợp thực hiện công tác binh vận, trực tiêp đến từng nhà dân, vận động người Kinh, Khmer đoàn kết, không đi lính cho Pháp, tích cực ủng hộ lương thực cho bộ đội.
Mẹ còn vận động thành lập "Hội Mẹ Chiến sĩ" nhằm tập hợp những phụ nữ yêu nước tham gia ủng hộ cách mạng thông qua việc nấu cơm, gói bánh, chăm sóc thương binh, nuôi giấu cán bộ, làm nhiệm vụ trinh sát, bảo vệ cơ sở bí mật, trực tiếp chuyển tài liệu, vũ khí, lương thực từ địa bàn xã vào căn cứ đồng thời ủng hộ, giúp đỡ những gia đình bị địch càn quét, bắt bở, đốt nhà; vận động Nhân dân quyết tâm bám đất,giữ làng với phương châm: "Một tắc không đi, một ly không rời".
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Mẹ Hồ Thị Đào cùng đồng chí Trần Ngọc Ấn lãnh đạo Nhân dân Tri Tôn tổ chức cuộc biểu tình quy mô lớn với hàng trăm đồng bào tham gia, kéo dài từ chùa Soài Xo đến đồn Sóc Suôi. Đoàn biểu tình hô vang khẩu hiệu "Đả đảo Ngô Đình Diệm, Ủng hộ Hồ Chí Minh", đòi trừng trị bọn lính giáo phái của Lê Quang Vinh, đòi trả tự do cho cán bộ cách mạng... Trước khí thế đấu tranh như vũ bão của quần chúng, chính quyền địch và bọn lính vũ trang giáo phái Hòa Hảo phải cố thủ, không dám ra ngoài.
Năm 1957, chồng Mẹ - ông Huỳnh Văn Công hy sinh trên sóc Ô Lâm. Mẹ được điều về xã Tà Đảnh tiếp tục công tác phụ nữ. Giai đoạn 1957-1959, địch khủng bố ác liệt, nhiều đồng chí bị bắt, tù đày.
Mẹ cũng bị giam hai năm tại khám lớn Sài Gòn (1958 -1959). Không tìm được chứng cứ buộc tội, kẻ thù buộc phải trả tự do cho Mẹ. Ra tù, Mẹ tiếp tục hoạt động cách mạng, làm Bí thư Chi bộ xã Tà Đảnh (từ năm 1960 - 1961).
Đến năm 1962-1968, Mẹ được điều về vùng biên giới (Ba Chúc, Tịnh Biên, Xuân Tô) trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Năm 1965, khi phát hiện địch đắp lộ Huệ Đức để dễ dàng càn quét qua Vọng Thê, Mẹ cùng đồng đội tiến hành phá lộ nhằm ngăn chặn âm mưu của địch.
Giai đoạn này, Mẹ còn tham gia vận động Nhân dân trong vùng sơ tán khỏi vùng chiến sự để tránh thương vong, thực hiện công tác binh vận, hỗ trợ lực lượng cách mạng tấn công tiêu diệt các đồn địch.Tấm gương sáng ngời về lòng Yêu nước và ý chí kiên cường, bất khuất
Thời gian này lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh nhưng cuộc kháng chiến cũng ngày càng ác liệt. Mẹ nhớ rất rõ, ngày 16/4/1966, trong một cuộc họp của
Tỉnh ủy tại đồi Ma Thiên Lãnh, căn cứ Tà Sóc, con trai Mẹ - anh Huỳnh Văn Tiến được giao nhiệm vụ bảo vệ. Khi phát hiện địch, anh dũng cảm vừa bắn trả vừa đánh lạc hướng địch, giúp các đồng chí kịp thời rút lui. Từ trên máy bay giặc phát hiện và ném bom Napan, bom Phốt-pho xuống khu vực. Sau đó, Mẹ và đồng đội quay lại tìm nhưng anh đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau chưa nguôi đến tháng 10/1967, Mẹ lại nhận được tin anh Huỳnh Văn Phụ - chính trị viên đại đội, con trai lớn của Mẹ, hy sinh trong trận đánh tại núi Sập - Thoại Sơn. Lúc này, Mẹ hay bị đau yếu do những đòn tra tấn, hành hạ của kẻ thù mà Mẹ đã chịu đựng trong suốt thời gian bị tù đày. Chính vì vậy, nên cấp trên điều Mẹ về công tác tại văn phòng khu ủy Khu 8 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lúc đó Mẹ đã được 59 tuổi, mặc dù tuổi đã lục tuần, nhưng Mẹ vẫn luôn minh mẫn, sáng suốt, tiếp tục đóng góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ năm 1981, Mẹ trở lại quê hương Tri Tôn tiếp tục sinh sống tại mảnh đất nơi mà Mẹ đã sinh ra, lớn lên, đã từng cùng chồng, con và đồng bào Tri Tôn đồng cam cộng khổ để đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất cho dân tộc. Mẹ Hồ Thị Đào từ trần ngày 11/4/2010, hưởng thọ 94 tuổi.
Chiến tranh đã để lại những mất mát không gì bù đắp được, nhưng sự hy sinh cao cả của Mẹ Hồ Thị Đào chính là minh chứng cho tinh thần bất khuất của người phụ nữ
Việt Nam. Từ một người vợ, người mẹ với tình thương vô bờ bến, Mẹ đã trở thành tấm gương tiêu biểu về sự hy sinh, cống hiến cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc. Hình ảnh của Mẹ Hồ Thị Đào sẽ mãi khắc ghi trong lòng Nhân dân An Giang và dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng để các thế hệ mai sau học tập và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn