Mẹ Việt Nam Anh hùng

.Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Khương(1910 - )

Đồng Nai13/06/2026Tỉnh đoàn Đồng Nai (Tỉnh đoàn Đồng Nai)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Huỳnh Thị Khương (1910 – )

Huỳnh Thị Khương, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thật bình dị, nhân hậu. Ở tuổi 85, má vẫn còn tỉnh táo nhớ lại những kỷ niệm một thời đã khắc sâu trong trái tim của một người vợ, một người mẹ, một chiến sĩ cộng sản kiên trung.

50 năm trước, chị Bảy Liên (tên thường gọi của má) ở xã Bình Mỹ, huyện Tân Uyên, Bình Dương đã cùng chồng con và bà con cô bác đứng lên giành chính quyền. Ngọn cờ đỏ sao vàng năm cánh phần phật tung bay trước gió luôn là hình ảnh đẹp, sống động, thôi thúc chị sôi nổi, khẩn trương trong mọi hoạt động xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng chính trị.

Chị đã được cấp trên tin tưởng phân công làm Chủ tịch Hội Phụ nữ xã đầu tiên ở quê hương. Nhưng chẳng bao lâu, bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai đã quay lại. Xã Bình Mỹ cùng với cả miền Đông bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chị Bảy Liên, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, ngày đêm đi vận động thanh niên tòng quân, thành lập Hội mẹ, chị chiến sĩ để tiếp tế, nuôi quân.

Năm 1947, trong một trận ruồng bố có bàn tay chỉ điểm của bọn Việt gian, chồng má (Đoàn Văn Trạch), con (Đoàn Văn Sửu) và cả má Huỳnh Thị Khương đã bị chúng bắt ngay tại nhà. Đó là một ngày đêm máu lửa, đầy đau thương tang tóc mà má không bao giờ quên.

Chúng trói hai cha con. Một đứa túm lấy ngực Đoàn Văn Sửu, năm ấy mới 18 tuổi, đẩy ra phía trước rồi chúng thay nhau đấm đá, tra hỏi nơi cất giữ tài liệu, hầm bí mật. Sửu một mực trả lời: “Chăn trâu ngoài đồng, không biết.” Tức thì thằng Tây lông lá đầy mình trợn mắt, thét to và nổ súng. Đoàn Văn Sửu ngã vật ra, một bên đùi tứa máu.

Lúc đó, mặt mũi má tối sầm lại, hai tay ôm lấy đầu gào khóc, nhưng lòng má thầm nhủ: “Con ơi, con chớ có khai, chết cả làng mất.”

Thằng thông ngôn và thằng Tây cứ đi quanh Sửu gào thét: “Có khai không? Tài liệu, hầm ở đâu?” Nhưng chúng chỉ nhận được cái lắc đầu. Thế rồi thằng Tây đã dí súng vào mang tai Sửu bóp cò. Hôm đó là ngày 23/5/1947, tức ngày 4 tháng Tư năm Đinh Hợi.

Còn ông Đoàn Văn Trạch, khi ấy là Bí thư thanh niên kiêm Chủ nhiệm Việt Minh, bị chúng giải về bót Phước Hòa. Lo chôn cất cho con xong, má lại lo chạy cho chồng. Việc chưa xong thì má hay tin chúng đã giết ông rất dã man.

Bọn địch lột trần, trói quặt ông ở cột đèn, cứ một lần tra hỏi, chúng lại dí đầu thuốc vào ngực. Một lần lặp lại, bất ngờ tên châm thuốc bị ông đá trúng háng, hắn ngã vật ra, chết xỉu. Những tên khác trói chân ông lại rồi thay nhau dùng lê rạch ngực. Máu tuôn ra, chúng tạt nước cho trôi đi, lại rạch tiếp. Đày ải ba ngày, không khai thác được gì, chúng gài trái quanh người ông rồi cho nổ banh xác ngoài sông.

Liệt sĩ Đoàn Văn Trạch đã chiến đấu và hy sinh cực kỳ oanh liệt.

Sau cái tang lớn của gia đình, má chỉ còn có lời thề trọn kiếp sống mái với quân thù. Mặc cho giặc càn quét, cướp của, giết người, đánh phá cơ sở kháng chiến, má vẫn kiên định bám trụ hoạt động và đã trở thành người nữ đảng viên ở quê hương.

Hiệp định Genève được ký kết, má được cấp trên phân công ở lại, giao nhiệm vụ làm Bí thư Chi bộ xã Bình Mỹ. Cùng với các đồng chí trong cấp ủy, má đi tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ âm mưu chia cắt đất nước của bè lũ Mỹ – Diệm, tổ chức các cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève.

Họ Ngô thẳng tay diệt cộng. Má tạm lui về Sài Gòn. Sau vụ thảm sát Phú Lợi(1), má được anh Chín Lê điều về làm Bí thư Chi bộ Phú Lợi. Đây là thời kỳ hoạt động bí mật đầy cam go, thử thách.

Khi nhận nhiệm vụ Chủ tịch Hội Phụ nữ Phân khu 5, má cùng với các đồng chí của mình xây dựng cơ sở, lực lượng chính trị trên địa bàn và trong giới phụ nữ, nhằm tạo cơ sở cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1970, Đảng điều má sang làm quân báo, phụ trách T1, đi sâu vào lòng địch, hoạt động ngay trong sào huyệt của các đơn vị địch.

Con trai thứ của má – anh Đoàn Văn Sỹ – hy sinh năm 1972, trong một trận điều nghiên bót Bình Mỹ. Anh em kể lại, anh Sỹ bị thương, không rút ra được, phải nằm lại. Khi địch tới thì anh rút súng tự sát, đúng như lời anh thường nói với đồng đội:

“Nếu bị thương, phải nằm lại thì nhất định tự sát chứ nhất quyết không chịu để lọt vào tay giặc.”

Nói sao làm vậy, má biết tính gan lì, quả cảm của con ngay từ hồi còn nhỏ. Ngày anh Sỹ mất là ngày 23/2/1972, nhằm ngày 9 tháng Giêng năm Nhâm Tý.

Lúc đó má ở Biên Hòa, hay tin con chết chỉ còn biết cắn răng chịu đựng, ruột gan cứ như bị dứt ra từng khúc. Điều duy nhất an ủi là hài cốt anh Sỹ được chị và bà con cô bác quê hương lo chôn cất chu toàn. Và sau năm 1975, má đã đưa hài cốt anh về an nghỉ ở Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đồng Nai.

Năm 1985, má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Huỳnh Thị Khương được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn