MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG HUỲNH THỊ Ó
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của ta” Chính truyền thống ấy đã trở thành cội nguồn sức mạnh dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi qua những năm tháng kháng chiến đầy gian lao mà vẫn kiên định, bền bỉ và sáng tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của ta” Chính truyền thống ấy đã trở thành cội nguồn sức mạnh dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi qua những năm tháng kháng chiến đầy gian lao mà vẫn kiên định, bền bỉ và sáng tạo.
Để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã trải qua chín năm trường kỳ kháng chiến, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, từng bước giành thắng lợi. Toàn dân tin tưởng và kiên trì thực hiện đường lối “kháng chiến, kiến quốc”, thấm nhuần lời hiệu triệu “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vẫn tiếp tục được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu, lý giải. Và dù xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau, các phân tích đều gặp nhau ở một điểm: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa anh hùng cách mạng chính là nhân tố quyết định làm nên thắng lợi vĩ đại của Điện Biên Phủ.
Tất cả những người con đất Việt – những người mang trong mình dòng máu đỏ da vàng, kết tinh từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước – đều khắc cốt ghi tâm công ơn của các Anh hùng liệt sĩ, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những Anh hùng Lực lượng vũ trang, thương binh, chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt, tù đày,… Họ là những anh hùng “đời thực” đã dâng hiến trọn vẹn tuổi trẻ, sức lực, niềm tin và máu xương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và gìn giữ từng tấc đất thiêng liêng của cha ông.
Những hi sinh ấy, có người đã được lịch sử khắc ghi, có người chỉ còn được lưu giữ trong ký ức của gia đình, của những làng quê yên bình, nhưng tất cả đều hòa vào bản anh hùng ca bất tận của dân tộc Việt Nam. Mỗi Bà mẹ Việt Nam anh hùng là một chứng nhân lịch sử – nơi từng nỗi đau riêng hóa thành sức mạnh chung, nơi từng giọt nước mắt gửi tiễn con ra trận lại thắp lên ngọn lửa kiên cường trong trái tim bao thế hệ. Các mẹ đã biến nỗi mất mát thành niềm tin, biến hạnh phúc riêng tư thành sự trường tồn của một dân tộc.
Chính từ những câu chuyện thấm đẫm nước mắt và lòng tự hào ấy, chúng ta càng hiểu giá trị của độc lập, tự do hôm nay. Hòa bình mà chúng ta đang hưởng không phải là điều hiển nhiên, mà là kết quả của biết bao thế hệ đã ngã xuống, biết bao bà mẹ đã âm thầm chịu đựng nỗi đau mất con, mất chồng, để đất nước có ngày đứng vững hiên ngang trước thế giới. Tri ân các mẹ, tri ân những anh hùng đã khuất, không chỉ là nghi lễ của lịch sử mà còn là trách nhiệm đạo lý, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, nhắc nhở mỗi người Việt Nam ý thức rõ ràng hơn về nghĩa vụ giữ gìn và tiếp nối những giá trị thiêng liêng của dân tộc.
Hôm nay, khi đất nước bước vào thời đại mới với biết bao cơ hội và thách thức, hình ảnh Bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn mãi là điểm tựa tinh thần bất biến. Những hi sinh của các mẹ như nhắc nhở mỗi chúng ta phải sống xứng đáng hơn, cống hiến nhiều hơn và đoàn kết hơn để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, văn minh. Đó chính là cách thiết thực nhất để tri ân quá khứ, để những hi sinh của các mẹ mãi mãi không rơi vào quên lãng. Giữa hàng vạn câu chuyện bi hùng của những người mẹ trên khắp mọi miền đất nước, câu chuyện của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Ó vẫn luôn khiến ta lặng đi vì sự mất mát quá lớn nhưng cũng đầy tự hào về tinh thần bất khuất của dân tộc.
Liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Ó, sinh năm 1909, hy sinh ngày 20 tháng 9 năm 1961, hưởng dương 52 tuổi, quê quán: ấp 7, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ Huỳnh Thị Ó sinh được 07 người con (02 trai, 05 gái), 02 người bị bệnh chết từ nhỏ; trong số 05 người con còn lại tất cả đều thoát ly gia đình đi kháng chiến hoặc tham gia công tác cách mạng tại địa phương. Mẹ có hai con là liệt sĩ (một con trai và một con gái) đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Là con cháu của những người nông dân Bến Nghé xưa, có truyền thống lao động cần cù, có đức tính thật thà chất phác, Mẹ Huỳnh Thị Ó được sinh ra và lớn lên trong bối cảnh quê hương đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, người dân tất thảy đều phải lầm than cơ cực. Trưởng thành trên quê hương có truyền thống chống giặc ngoại xâm từ lâu đời, mẹ Ó sớm giác ngộ cách mạng và tham gia công tác từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mẹ là cán bộ của xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi. Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Tranh, người cùng thôn, ông cũng tham gia các công tác cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp như phá cầu đường ngăn cản bước tiến quân của địch… Trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhà mẹ Ó là cơ sở nuôi dưỡng thương bệnh binh, nuôi giấu cán bộ cách mạng. Mẹ luôn tích cực cùng bà con tham gia trong các cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch.
Cũng như những bà mẹ Việt Nam anh hùng khác, mẹ Huỳnh Thị Ó là người phụ nữ Việt Nam rất đổi bình dị, nhưng rất kiên cường bất khuất trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Mẹ tảo tần sớm hôm cày cấy nuôi chồng con, góp gạo nuôi quân chỉ với ước nguyện lớn nhất là nước nhà sạch bóng quân thù, gia đình đoàn tụ trong hòa bình, hạnh phúc. Mẹ đã nuôi dưỡng các con khôn lớn, giáo dục, động viên các con thoát ly gia đình tham gia đi kháng chiến.
Con mẹ, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bá sinh năm 1929, tham gia công tác cách mạng từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, là Chi ủy viên Chi bộ xã Bình Mỹ, hy sinh ngày 19/9/1961 do bị địch sát hại trên đường đi công tác. Khi biết cả gia đình mẹ đều tham gia công tác cách mạng và để truy sát tận gốc, địch lôi xác anh Bá đem về bỏ tại cầu Cây Xanh (ấp 6 B, xã Bình Mỹ) và gài thuốc nổ dưới xác anh. Sau đó, chúng báo tin cho gia đình mẹ đến lấy xác anh mang về chôn cất. Hay tin, mẹ và người con gái thứ Bảy là chị Nguyễn Thị Khương, sinh năm 1939, tham gia công tác cách mạng từ sau năm 1954, là Phó Bí thư xã Đoàn xã Bình Mỹ, chị Nguyễn Thị Khuya là vợ của anh Bá đang mang thai gần ngày sinh nở cùng với một số bà con trong ấp đến kéo xác anh Bá về chôn cất; mìn nổ làm mẹ và chị Khương hy sinh. Vợ con anh Bá và số bà con đứng xung quanh cũng đều tử nạn, trong đó có vợ của đồng chí Mười Sử (cán bộ An ninh quận Củ Chi), đó là ngày 20/9/1961. Chỉ trong vòng 2 ngày, do sự độc ác của kẻ thù, cả gia đình mẹ hy sinh và chết mất 5 người cùng nhiều bà con lối xóm khác. Hận thù chồng chất, các con còn lại của mẹ biến đau thương thành hành động cách mạng, tiếp tục con đường mà mẹ đã chọn, quyết tâm chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược cho đến ngày giành thắng lợi hoàn toàn.
Chị Nguyễn Thị Ba (con gái thứ ba của Mẹ Ó) tham gia vào đơn vị hậu cần tiếp tế lương thực, thực phẩm cho đồng chí Nguyễn Văn Bứa (tức thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm). Sau ngày giải phóng, chị công tác trong Hợp tác xã mua bán xã Bình Mỹ, đến năm 1979 nghỉ về nhà mua bán sinh sống. Anh Nguyễn Văn Diệp (con trai thứ năm), tham gia cách mạng từ năm 1962 vào Đoàn 81, cấp bậc Thượng sĩ- Chức vụ Trung đội phó. Sau ngày giải phóng năm 1976, anh chuyển công tác sang Cục Xây dựng Hậu cần Kinh tế Quân khu 7. Năm 1979, anh Diệp phục viên về công tác ở ấp 7, xã Bình Bình Mỹ; năm 1993 nghỉ hưu. Chị Nguyễn Thị Chính (con gái út của Mẹ Ó), tiếp bước con đường của mẹ đã chọn, chị luôn tích cực tham gia công tác tải thương, chăm sóc nuôi dưỡng thương binh trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất 30/4/1975.
Mẹ Huỳnh Thị Ó được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ quốc ghi công và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 28 tháng 4 năm 1997, Quyết định số 1212 KT/CTN.
Chiến tranh đã lùi xa, đất nước hôm nay khoác lên mình màu xanh thanh bình, những mùa lúa lại trĩu bông, tiếng cười lại vang trên khắp mọi nẻo. Thế nhưng, phía sau ánh sáng của hòa bình vẫn còn những khoảng lặng không thể gọi thành tên - những nỗi đau, mất mát mà thời gian dẫu có trôi đi cũng không sao xóa nhòa trong lòng những người ở lại. Mỗi khi nhắc đến những năm tháng gian nan ấy, hình bóng những người mẹ Việt Nam anh hùng như lại hiện về, nhắc nhở chúng ta về sự hy sinh vô bờ bến dành cho Tổ quốc.
Trong dòng chảy ấy, ký ức về Mẹ vẫn được con cháu nâng niu gìn giữ như một ngọn lửa ấm áp. Hiện nay, cháu nội trai của Mẹ là anh Nguyễn Hoàng Việt đang thay mặt gia đình đảm lo việc thờ phụng, hương khói cho Mẹ tại ngôi nhà thân thuộc số 12B, đường 144, ấp 7, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi. Nơi ấy không chỉ là mái nhà của một gia đình, mà còn là không gian tâm linh thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn - nơi hằng ngày khói hương vẫn được nâng lên, để tưởng nhớ một người mẹ đã hiến dâng trọn đời mình cho hòa bình của quê hương. Sự chu toàn và kính trọng của anh Việt đối với bàn thờ Mẹ cũng chính là cách thế hệ con cháu tiếp nối truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, để câu chuyện về cuộc đời và những hy sinh thầm lặng của Mẹ mãi được lưu truyền. Nhờ vậy, dù chiến tranh đã qua đi, hình ảnh cao đẹp của Mẹ vẫn còn đó - sống mãi trong từng nén hương, từng hồi tưởng, trong lòng gia đình và trong trái tim của những người biết trân trọng lịch sử dân tộc.


