Mẹ Việt Nam Anh hùng LÊ THỊ KHÁNH
Họ và tên: Lê Thị Khánh. Sinh năm: 1903. Quê quán/nơi cư trú: làng Mỹ Khánh, nay thuộc khu vực Bửu Hòa, Biên Hòa. Chồng: ông Châu Văn Kéo (Hai Kéo), giáo viên Trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Các con tham gia lực lượng địa phương và quân đội từ sau Cách mạng Tháng Tám. Hai người con được nguồn ghi hy sinh: Châu Ngọc Đức và Châu Ngọc Hạnh. Nhóm nhân vật: Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Danh hiệu: truy tặng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.
Biên Hòa là đô thị – công nghiệp quan trọng ở miền Đông Nam Bộ. Từ trước Cách mạng Tháng Tám, các mạng lưới yêu nước và cách mạng đã hình thành trong công nhân, trí thức và nhân dân địa phương. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhiều gia đình trở thành cơ sở, vừa cung cấp người cho lực lượng vũ trang vừa bảo đảm nơi ở, lương thực và liên lạc. Sau năm 1954, truyền thống ấy tiếp tục trong điều kiện hoạt động bí mật khó khăn hơn.
Mẹ Lê Thị Khánh sống trong một gia đình có chồng là ông Châu Văn Kéo, giáo viên Trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Nguồn tư liệu địa phương cho biết ông tham gia hạt nhân cách mạng từ trước năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám, các con lớn của gia đình tham gia lực lượng địa phương; Mẹ đóng góp lương thực, tiền và chăm lo hậu phương.
Trong các con, Châu Ngọc Đức hoạt động vũ trang tại khu vực Biên Hòa và hy sinh ngày 07/12/1951 tại Hóa An. Châu Ngọc Hạnh tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève, sau đó trở lại công tác và hy sinh ngày 30/07/1967 tại Lâm Đồng. Hai mốc hy sinh cách nhau nhiều năm cho thấy một gia đình trải qua cả hai thời kỳ kháng chiến. Mẹ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cuối năm 1994.
Điểm đặc biệt của gia đình Mẹ Lê Thị Khánh là sự kết hợp giữa môi trường trí thức – nghề nghiệp đô thị với hoạt động cách mạng. Chồng Mẹ là giáo viên; các con sau đó tham gia quân sự ở nhiều địa bàn. Mẹ giữ vai trò duy trì gia đình và hỗ trợ về vật chất trong khi nhiều thành viên làm nhiệm vụ.
Sau khi Châu Ngọc Đức hy sinh năm 1951, chiến tranh vẫn tiếp diễn. Người con Châu Ngọc Hạnh lại đi qua một hành trình khác: tập kết ra Bắc rồi trở lại chiến trường và hy sinh năm 1967. Câu chuyện giúp học sinh hiểu rằng với nhiều gia đình, kháng chiến không phải một giai đoạn ngắn mà là chuỗi trách nhiệm và mất mát kéo dài qua nhiều thập niên.



