Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Trơn (1921- )
Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Trơn (1921- )
Mẹ Lê Thị Trơn, sinh năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình nông dân, lấy chồng năm 20 tuổi.
Ngày 23/9/1945, quân dân Sài Gòn - Gia Định nổ những phát súng đầu tiên
chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Hơn một tháng sau, núp bóng quân Anh với danh nghĩa quân Đồng Minh đi giải giáp lính Nhật bại trận, quân Pháp tiến chiếm tỉnh lị Biên Hòa. Đúng ngày ông Táo chầu trời năm Ất Dậu (25/1/1946), chúng nống ra lấn chiếm quận lị Long Thành và nhiều xã khác, đóng bót Cây Xoài đôi. Tên sếp bót chỉ huy chừng một trung đội lính Cao Đài thường đi ruồng bố bắt bớ những ai đáng nghi, đốt phá và cướp bóc tài sản của dân. Để tránh giặc, gia đình mẹ Trơn ra ở ấp Mới vàm Bà Chèo - một nơi có nhiều lùm bụi rậm rạp ven sông, khi cần có thể chém vè dễ dàng. Nhưng rồi một buổi sáng lính địch đi càn, lấy luôn chiếc ghe của gia đình mẹ, bắt chồng mẹ đánh đập gần chết làm ông bán thân bất toại khổ sở bao nhiêu năm liền. Ông bà già ruột của mẹ và mấy người em đi làm ruộng ở ngọn rạch Nhum bị tàu giặc chạy trên sông Đồng Nai bắt ngày 23/10/1947 (10 tháng 9 năm Đinh Hợi). Chúng giết hai ông bà, xác bà trôi mất tích. Mẹ Trơn phải nuôi các em thay cha mẹ (bốn người em ruột đều tham gia dân quân du kích xã và đều hy sinh. Anh Ba Tặc (Lê Văn Tặc) hy sinh ngày 7/2/1947 (17 tháng 1 năm Đinh Hợi). Anh Tư Lang (Lê Văn Lang) hy sinh ngày 2/10/1952 (14 tháng 8 năm Nhâm Thìn). Anh Năm Xình (Lê Văn Xình) hy sinh sau Đồng khởi nhưng đồng chí bí thư xã Tám Tiếp (Lê Tấn Kiệp) đã chết sau đó, không có ai xác nhận nên chưa được công nhận là liệt sĩ. Anh Bảy Đực (Lê Văn Đực) hy sinh ngày 15/11/1968 (25 tháng 9 năm Mậu Thân).
Sau cao trào Đồng khởi 1960, các con trai của mẹ Trơn lớn lên, các anh phải tránh địch bắt quân dịch rất nhiều lần, bằng mọi cách khác nhau. Khi địch lùng sục riết, các anh lần lượt tham gia cách mạng. Anh Hai Gốp (Nguyễn Văn Gốp) đã có vợ và hai con, vào du kích xã Tam An tháng 2/1967. Tiếp đó không lâu, anh Ba Đủ (Nguyễn Văn Đủ) được đưa đi bộ đội trên R, suốt nhiều năm xa nhà, mẹ muốn đi thăm nhưng đành chịu vì không biết anh ở đâu. Tháng 6/1967, anh Tư Lợi (Nguyễn Văn Lợi) gia nhập đơn vị C1 Long Thành. Khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân nổ ra, anh Sáu Lợi (Nguyễn Văn Lợi em) cũng đi theo hai anh Hai Gốp và Tư Lợi. Vì các anh bám trụ địa bàn nên hầu như không ngày nào mẹ không gặp một trong các con. Mẹ không cần đi thăm mà đêm đêm các anh thường đột về thăm mẹ. Mẹ dù nghèo, song con nào yêu cầu hoặc anh em nhờ mua gì, mẹ đáp ứng ngay. Nhiều lúc mẹ gác cho cán bộ và du kích họp hành, nghỉ ngơi, báo động kịp thời cho anh em rút. Một số lần, mẹ nghi trang đi xúc tôm cá, đi lấy củi, đi cấy... để đưa tin tức cho anh em.
Một ngày trong năm Mậu Thân 1968, anh Hai Gốp đi công tác ở Phước Nguyên. Anh bị lính sư đoàn 18 ngụy đi càn, bắn chết ở vườn chè. Mấy cán bộ và du kích xã giấu, mãi vài ngày sau mới cho gia đình biết. Mẹ choáng váng, muốn ngất xỉu. Vợ anh than khóc một hồi lâu. Khi cả mẹ chồng và con dâu trấn tỉnh lại, cùng bàn bạc rồi xuống đó kiếm xác chôn cất chu đáo. Một tên lính nói:
- Con bà đi Việt Cộng bị bắn chết chứ gì!
- Họ đi ngang bắn chết con tôi, tôi đâu biết gì.
Anh Tư Lợi đi bộ đội, lâu lâu mới có dịp ghé qua nhà thăm mẹ. Mẹ cũng không có điều kiện đi thăm anh. Ngày 27/6/1970 (25 tháng 5 năm Canh Tuất), đơn vị C1 Long Thành đánh địch ở ngã ba Thái Lan (An Phước giáp Tam Phước). Anh Tư Lợi (Nguyễn Văn Lợi) hy sinh được đồng đội chôn cất[1]. Rất lâu mẹ mới biết tin dữ này. Lòng mẹ như dao cắt, cho đến lúc đó đã sáu lần mẹ đón nhận những tin đau thương vô hạn của bốn em và hai con. Bọn địch luôn luôn dò hỏi về các con của mẹ. Mẹ trả lời:
- Tôi và các con đều nghèo, phải cho chúng nó đi ở đợ. Chúng nó ở đâu tôi không biết...
Anh Sáu Lợi (Nguyễn Văn Lợi em) đi du kích làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ xã, xây dựng cơ sở, rải truyền đơn... Đêm 17/7/1971 (5 tháng 5 năm Tân Hợi), từ căn cứ đột về ấp làm công tác vũ trang tuyên truyền, anh lọt ổ phục kích địch, hy sinh tại vườn nhà ông xã Kết. Đồng đội mang anh đi, an táng chu đáo.
Tuy nhà nghèo song mẹ Lê Thị Trơn là cơ sở chí cốt. Năm lần mẹ bị cháy nhà, năm lần anh em du kích và cán bộ xã kiếm lá và cây cất lại nhà cho mẹ.
Từ ngày toàn thắng, mẹ được hưởng các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mẹ được nhận ngôi nhà tình nghĩa đầu tiên ở Tam An. Mẹ được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập và cuối năm 1994, được trao tặng danh hiệu vẻ vang Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
[1] Trải qua mấy năm chiến tranh, địa hình khu vực đó thay đổi nên sau ngày giải phóng đến nay, chưa tìm thấy mộ anh. chồng nghèo, hai người xin được hai công ruộng biền, mỗi năm chỉ làm một vụ mùa sớm. Năm nào, nước sông Đồng Nai lên cao hơn mức bình thường, kể như năm đó thất, cầm chắc sự thiếu đói. Mẹ chỉ sinh được con trai duy nhất Trần Văn Hạ. Dù nhà nghèo, mẹ cũng rán cho Hạ đi học ít nhiều. Suốt hai thời kỳ kháng chiến, Tam An là địa bàn quan trọng. Xã vừa có rừng núi, vừa có bưng biền, sông rạch chằng chịt. Dãy đồi cao nằm kề phía Bắc con lộ nhỏ chạy dài ngang xã, nối quốc lộ 15 vào tận Tam Phước. Trên đồi rừng rậm mịt mù, đó là căn cứ kháng chiến của nhiều lực lượng: địa phương, thị xã Biên Hòa, cánh T.4 Thủ Đức trụ bám. Vùng rừng - đồi này là mục tiêu oanh kích tự do của máy bay, pháo địch bất kể giờ giấc. Vùng bưng ven sông có nhiều lùm bụi, anh em ta “chém vè” dễ dàng. Địch đóng bót ngay giữa xã, quân số từ cỡ trung đội trở lên. Muốn hành quân, chúng phải đi đông; có những cuộc bố hội gồm nhiều cánh, theo nhiều ngả chà xát làng xóm. Chúng ít càn vào rừng vì sợ mìn và lựu đạn gài dày đặc. Mẹ Sáu Dễ lấy vợ cho anh Hạ khi anh đã lớn. Nửa đầu những năm 1960, anh bị bắt quân dịch. Đây là điều mẹ và anh không thích, nhưng lính và cảnh sát dí súng vào lưng, không đi sao được. Cầm súng giặc, anh lại sợ bà con và lực lượng du kích xã. Chưa kịp tính toán cần làm gì, anh bị chúng điều đi đóng bót Quán Tre. Vợ Hạ theo chồng với



