Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG LƯƠNG THỊ THÌN – NGƯỜI MẸ KIÊN TRUNG, GIA ĐÌNH TRỌN LÒNG VÌ ĐỘC LẬP TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐỒNG NAI

Trong những năm tháng chiến tranh trường kỳ, gian khổ và ác liệt, biết bao gia đình Việt Nam phải chịu cảnh chia lìa, mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Đằng sau nền độc lập, tự do hôm nay là những hy sinh thầm lặng mà lớn lao của các thế hệ đi trước. Trong số những người mẹ đã hiến dâng cả gia đình cho cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng Lương Thị Thìn là tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước, đức hy sinh và tinh thần kiên trung của người phụ nữ Việt Nam trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.

TP. Hồ Chí Minh28/10/2026Phường Chơn Thành (Đoàn phường Chơn Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG LƯƠNG THỊ THÌN – NGƯỜI MẸ KIÊN TRUNG, GIA ĐÌNH TRỌN LÒNG VÌ ĐỘC LẬP TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐỒNG NAI

Mẹ Lương Thị Thìn sinh năm 1896 tại Đồng Ván, xã Tân Ba, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa xưa, nay thuộc tỉnh Bình Dương. Mẹ sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, coi trọng lễ giáo. Khi còn trẻ, mẹ quen biết ông Đỗ Văn Thượng, một thanh niên yêu nước quê ở xã Phước Lai, quận Long Thành. Vì tham gia Hội kín chống thực dân Pháp, ông Thượng bị chính quyền thực dân bắt giam tại Khám Lớn Biên Hòa vào khoảng giữa thập niên 1910.

Cảm phục tinh thần yêu nước của người thanh niên ấy, cô gái Lương Thị Thìn nhiều lần bất chấp sự ngăn cản của gia đình, lén đến thăm nuôi ông. Tình cảm chân thành giữa hai người vẫn bền chặt dù bị ngăn cách bởi song sắt nhà tù. Sau khi ông Thượng được thả, gia đình ông từ Long Thành đến Tân Ba ngỏ ý tổ chức hôn lễ, nhưng gia đình mẹ Thìn không đồng ý vì cho rằng ông không phù hợp với gia phong. Vượt qua những ràng buộc và định kiến, mẹ quyết định gắn bó với người mình yêu, cùng ông đến xóm Trầu, xã Long An, huyện Long Thành, làm ăn và xây dựng gia đình.

Hai người có sáu người con, gồm Lương Văn Nho, Lương Thị Xuyến, Lương Văn Chẩn, Lương Thị Mẫn, Đỗ Văn Buông và Đỗ Thị Cúc. Mẹ chăm lo cho các con ăn học, đồng thời thường xuyên kể về nguồn cội gia đình, bồi đắp cho con tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Khoảng năm 1943, đồng chí Trịnh Văn Dục, cán bộ Đảng quê ở Thanh Hóa, được Xứ ủy Nam Kỳ điều về gây dựng phong trào cách mạng trong công nhân đồn điền cao su Long Thành. Trong thời gian hoạt động tại địa phương, đồng chí được gia đình mẹ Thìn cưu mang, nuôi dưỡng và giúp đỡ. Từ sự gắn bó ấy, đồng chí nhận mẹ Thìn làm mẹ nuôi.

Tháng Tám năm 1945, khi phong trào cách mạng dâng cao, các con của mẹ Thìn lần lượt tham gia hoạt động, góp sức vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Người con trai cả Lương Văn Nho, còn gọi là Hai Nho, từng làm việc tại Sở Kho bạc Biên Hòa, sau đó tham gia cách mạng, được giao nhiệm vụ Ủy viên Tài chính huyện và rồi làm Đại đội trưởng Đại đội C, Chi đội 10. Trải qua hai cuộc kháng chiến, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội và được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trước khi qua đời vào cuối thập niên 1980.

Người con trai Lương Văn Chẩn gia nhập Trung đoàn 307; Đỗ Văn Buông thoát ly gia đình, tham gia Trung đoàn 330. Hai người con gái Lương Thị Xuyến và Lương Thị Mẫn tích cực hoạt động trong công tác thanh niên, phụ nữ tại địa phương. Người con út Đỗ Thị Cúc tham gia đội văn nghệ tuyên truyền xung phong khi chưa đầy 10 tuổi. Khi trưởng thành, bà tiếp tục làm công tác cứu thương, đi tập kết và được đào tạo trở thành bác sĩ.

Không chỉ động viên các con đi theo con đường cách mạng, mẹ Thìn còn tận tình đóng góp gạo, tiền và tài sản để nuôi dưỡng cán bộ, bộ đội, du kích. Ngôi nhà và tấm lòng của mẹ trở thành điểm tựa cho những người hoạt động cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn, hiểm nguy.

Đối với mẹ, tình yêu nước không chỉ nằm trong lời nói mà được thể hiện qua từng việc làm cụ thể: cưu mang cán bộ, giúp đỡ lực lượng kháng chiến và chấp nhận những mất mát riêng để góp sức cho sự nghiệp chung. Chính sự lựa chọn ấy đã đặt gia đình mẹ vào vòng nguy hiểm khi kẻ thù ngày càng tăng cường khủng bố, truy lùng những người tham gia cách mạng.

Ngày 7/2/1946, thực dân Pháp mở cuộc càn quét vào xã Long An. Hơn 200 căn nhà bị đốt phá, riêng xóm Trầu có khoảng 90% nhà cửa bị thiêu rụi. Khoảng 50 người dân bị bắt đi khuân vác tài sản mà quân địch cướp được về quận lỵ Long Thành; tám người bị sát hại, trong đó có mẹ Lương Thị Thìn.

Do biết mẹ có con nuôi là đồng chí Trịnh Văn Dục, Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Long Thành, đồng thời các con ruột của mẹ đều tham gia kháng chiến, một tên chỉ điểm đã báo cho quân Pháp. Chúng bắt mẹ, dùng nhiều hình thức tra tấn tàn bạo nhằm ép mẹ khai báo tung tích và hoạt động của các con.

Dù phải chịu những trận đòn roi khốc liệt, mẹ vẫn một mực giữ kín bí mật. Trước những lời tra hỏi của kẻ thù, câu trả lời của mẹ vẫn là: “Không biết!” Không khuất phục được ý chí của người mẹ, quân địch đã bắn chết mẹ sau nhiều lần tra tấn dã man, rồi vắt thi thể mẹ trên hàng rào nhà lao.

Mẹ hy sinh khi tuổi đời đã cao, nhưng tinh thần kiên trung và lòng son sắt với cách mạng vẫn không hề lay chuyển. Mẹ trở thành một trong những liệt sĩ đầu tiên của xã Long An. Sự hy sinh ấy không chỉ là nỗi đau của gia đình mà còn là mất mát lớn lao của quê hương, để lại tấm gương bất khuất cho những thế hệ sau.

Mẹ đã có thể lựa chọn im lặng để giữ lấy mạng sống, nhưng mẹ đã chọn bảo vệ các con, bảo vệ đồng đội và giữ trọn bí mật cách mạng. Trong giờ phút khắc nghiệt nhất, tình yêu thương của mẹ đã vượt lên nỗi sợ hãi, trở thành sức mạnh giúp mẹ giữ vững khí tiết đến giây phút cuối cùng.

Chỉ 12 ngày sau khi mẹ hy sinh, ngày 19/2/1946, người con trai Lương Văn Chẩn cũng ngã xuống trong một trận càn của địch tại xã Phước Thọ. Khi đang làm nhiệm vụ, anh chiến đấu bên khẩu súng máy của đơn vị và hy sinh tại trận địa. Đến nay, hài cốt của anh vẫn chưa được tìm thấy.

Nỗi đau mất mẹ chưa nguôi, gia đình lại phải chịu thêm mất mát khi người con trai tiếp tục hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Dẫu chưa thể đưa anh trở về an nghỉ trong lòng đất quê hương, sự hy sinh của anh vẫn là một phần ký ức thiêng liêng trong lịch sử đấu tranh của gia đình và địa phương.

Người con trai Đỗ Văn Buông sau nhiều trận chiến đấu đã đảm nhiệm chức vụ Đại đội phó. Ngày 30/6/1952, anh hy sinh trong một trận oanh tạc của máy bay địch tại Chiến khu Đ. Thêm một người con của mẹ nằm lại nơi chiến trường, góp máu xương vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Những năm sau đó, trước sự khủng bố ngày càng khốc liệt của địch, hai người con gái Lương Thị Xuyến và Lương Thị Mẫn phải lánh lên thị xã Biên Hòa, thay tên đổi họ để tiếp tục sinh sống và hoạt động cách mạng.

Năm 1965, chị Xuyến được một đơn vị hậu cần thuộc Quân khu miền Đông liên lạc, tiếp tục tham gia công tác bảo đảm hậu cần cho lực lượng kháng chiến. Chị tìm mua gạo, xăng dầu, thuốc men và nhiều vật dụng cần thiết, vận chuyển đến khu vực cây số 125 trên tuyến Quốc lộ 20, thuộc Định Quán, để bàn giao cho đồng đội.

Ngày 27/1/1970, trong lúc làm nhiệm vụ, chị bị địch bắt đưa về bót cảnh sát ở Chợ Lớn. Biết chị tham gia tiếp tế cho cách mạng, chúng vừa đe dọa, vừa dùng tiền bạc, vàng để mua chuộc, ép chị móc nối và kêu gọi người anh Lương Văn Nho ra chiêu hồi. Nhưng chị kiên quyết từ chối, không nhận lời và không khai báo.

Năm 1971, chị tiếp tục bị bắt và phải chịu những trận tra tấn vô cùng tàn bạo, gây tổn thương nghiêm trọng đến nội tạng. Dù sức lực dần cạn kiệt, chị vẫn giữ vững ý chí, nhất quyết không tiết lộ thông tin về đồng đội. Không khai thác được điều gì, địch thả chị trong tình trạng sức khỏe suy kiệt nghiêm trọng. Ngày 24/2/1972, chị qua đời vì những tổn thương và sự kiệt quệ sau thời gian bị giam cầm, tra tấn.

Những mất mát của gia đình mẹ Lương Thị Thìn là minh chứng đau thương cho cái giá của độc lập, tự do. Mẹ và các con đã lần lượt hy sinh, chịu đựng tù đày, tra tấn và mất mát, nhưng không ai từ bỏ lý tưởng đã lựa chọn. Những hy sinh ấy góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc, để đất nước có ngày hòa bình, thống nhất.

Gia đình mẹ Lương Thị Thìn là một gia đình có truyền thống cách mạng, với nhiều thành viên tham gia kháng chiến và ba liệt sĩ được công nhận theo tư liệu về gia đình, trong đó mẹ Thìn là người hy sinh đầu tiên. Gần nửa thế kỷ sau ngày mẹ ngã xuống, Nhà nước đã truy tặng mẹ danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” theo Quyết định số 522/KTCTN ngày 27/8/1995.

Danh hiệu ấy là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những hy sinh to lớn của mẹ cùng gia đình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Nhưng hơn cả một danh hiệu, câu chuyện về mẹ còn là ký ức thiêng liêng, nhắc nhở chúng ta về những con người bình dị đã âm thầm làm nên lịch sử bằng lòng yêu nước và sự hy sinh không điều kiện.

Mẹ Lương Thị Thìn không trực tiếp cầm súng ra chiến trường, nhưng mẹ đã góp sức cho cách mạng bằng sự chở che, nuôi dưỡng cán bộ, hỗ trợ lực lượng kháng chiến và kiên quyết giữ bí mật trước kẻ thù. Các con của mẹ cũng tiếp bước con đường ấy, người chiến đấu nơi trận mạc, người hoạt động trong công tác hậu cần, người tham gia tuyên truyền, phục vụ cách mạng. Mỗi người một nhiệm vụ, nhưng tất cả đều chung một niềm tin và một lý tưởng: giành lại độc lập, tự do cho quê hương, đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn