MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGÔ THỊ TRƯỚC

Dưới cái nắng mang hơi ẩm tháng ba nhuộm tươi màu hoa gạo, chúng tôi chạy xe trên con đường rái đá chạy dài theo kênh rạch để đến gặp anh Thi Văn Minh - cháu ngoại bà mẹ Việt Nam Anh hùng Ngô Thị Trước, anh Minh là người đang lo phần hương khói cho bà.
Anh Minh tiếp chúng tôi tại gian phòng khách của căn nhà cấp bốn, qua trò chuyện cởi mở, khi biết chúng tôi muốn tìm hiểu về đời tư của Mẹ Việt Nam Anh hùng Ngô Thị Trước, anh Minh vui vẻ tiếp chuyện và kể lại những gì mà má anh là mẹ Nguyễn Thị Sen (Hai Sen) đã kể về bà ngoại anh:
"Bà ngoại tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, thuở nhỏ bà không được học hành, tuổi thơ của bà là chuỗi ngày vất vả, khổ cực, chuyên đi làm thuê làm mướn phụ gia đình kiếm miếng cơm. Khi lớn lên bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Quí, người ở cùng ấp Phú Hội, xã Vĩnh Phú, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (Nay là khu phố Phú Hội, phường Vĩnh Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương).
Thời đó, xã Vĩnh Phú còn rất hoang vắng, chia làm hai làng, làng Phú Hội có diện tích rộng lớn hơn, nhưng cư dân phát triển chậm. Bởi đây là vùng đất trùng chua phèn, kênh rạch chằng chịt, đi lại khó khăn. Thời chiến tranh, những tiếng súng, tiếng còi tàu Tây từ sông Sài Gòn hú vang, phá tan cuộc sống lao động yên bình của người dân nơi đây.
Bà ngoại tôi sinh được bảy người con, thời buổi ấy dưới ách cai trị của thực dân Pháp, người dân sống rất cơ cực, đói ăn, khi đau bệnh không có thuốc men cứu chữa nên hai con bà đã ra đi từ nhỏ, còn ở lại với mẹ năm người con: hai trai, ba gái. Hai con trai là Nguyễn Văn Hớn (Ba Hớn) và Nguyễn Văn Lưới (Tư Lưới).
Do thời buổi chiến tranh, loạn lạc, các con của bà không được học hành đến nơi đến chốn, lớn lên cũng phải làm thuê, làm mướn để phụ giúp gia đình.
Thời gian này, bác Ba Hớn của tôi được tiếp xúc với cán bộ Việt Minh nên sớm giác ngộ cách mạng.
Cuối năm 1944, bác Hớn lạy xin bà vào rừng Cò Mi đi theo kháng chiến, mẹ tôi lặng lẽ gật đầu. Bác Hớn theo cán bộ Việt Minh lên đình Phú Long, rồi từ đây được cơ sở đưa vào chiến khu Thuận An Hòa.
Sang đầu năm sau, sợ con ở nhà bị bắt lính, nên bà tôi cho người con thứ ba là Nguyễn Văn Lưới liên lạc với cơ sở, xin được vào chiến khu theo anh trai. Dù thương con nhưng bà tôi cố kìm lòng, cẩm tay con trai mẹ động viên căn dặn
"Con ráng chịu cực khổ để bằng anh em đóng đội nghe? Không phải lo cho ba má ở nhà".
Năm 1949, nghe tin con là chiến sĩ Nguyễn Văn Hớn hy sinh trong trận đánh địch tại ấp Bình Đức, lòng bà ngoại tôi đâu như cắt! Nhưng bà cố kìm nén, sợ địch để ý theo dối, vì bà đang còn một đứa con trong chiến khu.
Năm 1950, bà ngoại tôi lại nhận tin dữ: Con mẹ là Nguyễn Văn Lưới anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt. Quân Pháp dùng xe tăng, pháo binh yếm trợ, càn vào chiến khu Thuận An Hòa mà địch cho là cái gai trước mắt chúng, cần phải san bằng, loại bỏ. Chiến sĩ Tư Lưới đã cùng đồng đội chống trả quyết liệt. Bác Tư tôi đã hy sinh trong trận đánh dữ dội ấy.
Hai năm liên tiếp, bà ngoại tôi nhận hai cái tang hai con.
Sau đó ít năm, ông ngoại tôi là Nguyễn Văn Quí cũng ra đi. Bà tôi càng thêm buồn, trống vắng. May còn ba người con gái, bà nén nỗi đau trong lòng, tiếp tục công việc chạy chợ, vui với con cháu.
Có lần bà nói với ba người con gái - trong đó có mẹ tôi: "Nếu chồng tụi bây, đứa nào đi theo con đường hại nước hại dân, là tao từ. Rồi bà lấy gương chiến đấu hy sinh của hai người con trai đế động viên các con. Bà tham gia phong trào phụ nữ kháng chiến, đi vận động quyên góp gạo nuôi quân, mua lúa xay gạo cung cấp cho bộ đội trong chiến khu.
Trong thâm tâm bà mong đến ngày cách mạng chiến thắng, để hai người con bà hy sinh không uổng.
Ngày đó đã đên, 30 tháng 4 năm 1975 thống nhất đất nước, bà ngoại tôi vui lắm! Bà được sống trong hòa bình, vui cùng con cháu được ba năm.
Năm 1978, bà ngoại tôi mất do bệnh già, thọ 90 tuổi. Nhà nước đã truy tặng vinh danh "Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Ngô Thị Trước".



