Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Bai
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Bai
Mẹ Nguyễn Thị Bai sinh năm 1920 tại xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. So với các xã khác trong huyện Đức Phổ, xã Phổ Phong quê mẹ Bai là nơi đất đai canh tác không rộng, điều kiện sản xuất không được thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhưng người dân Phổ Phong nổi tiếng chịu khó, cần cù, người trong làng còn có nghề “tay trái” truyền thống là làm chổi đót đẹp, bền, chắc được nhiều nơi ưa chuộng. Đức Phổ còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Đức Phổ đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp, như cuộc khởi nghĩa chiếm thành Quảng Ngãi do Lê Trung Đình lãnh đạo năm 1885, khởi nghĩa Nguyễn Bá Loan năm 1886. Đồng chí Nguyễn Nghiêm, Bí thư Chi bộ đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi chính là người xã Phổ Phong. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Đức Phổ đổi tên là huyện Nguyễn Nghiêm. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Đức Phổ kiên cường trụ bám đánh địch làm nên chiến thắng mùa khô 1965-1966 đánh bại trận càn quét lớn của quân Mỹ mang tên “Diều hâu đôi”, cũng như đập tan kế hoạch “tìm diệt” và “bình định” của lính Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nhân dân Đức Phổ còn đóng góp nhiều nhân tài vật lực cho tỉnh, cho Khu V đến đại thắng mùa xuân 1975. Mẹ Bai lấy chồng là ông Võ Văn Thì (sinh năm 1891), sinh được 5 người con trai: Võ Văn Na, Võ Văn Nọ, Võ Văn Nê, Võ Văn Trương, Võ Văn Phê. Như những bà mẹ Việt Nam cần cù và bất khuất khác, mẹ Nguyễn Thị Bai tuy sống trong vùng địch chiếm đóng vẫn một lòng hướng về cách mạng. Mẹ thường làm giao liên, đưa thư và dẫn dường, nuôi giấu, bảo vệ cán bộ hoạt động bí mật. Các con của mẹ khi trưởng thành đều lần lượt thoát ly đi kháng chiến. Năm 1967, con trai út của mẹ là Võ Văn Phê, là bộ đội huyện Đức Phổ được biệt phái tăng cường cho du kích xã Phổ Phong, bị địch phục kích, hy sinh khi vừa bước qua tuổi 19, chưa kịp cưới vợ. Cũng trong năm này, con trai Võ Văn Nê là Trung úy thuộc Tỉnh đội Quảng Ngãi bị địch bắt, sau khi tra tấn để khai thác tin tức không được đã đưa ra giam giữ trại trại tù binh Phú Quốc. Đến năm 1973, theo Hiệp định Paris, Võ Văn Nê được trao trả tại Lộc Ninh, nhưng do bị tra tấn dã man trong thời gian tù đày, mang nhiều bệnh tật, Võ Văn Nê qua đời tại bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1978. Nỗi buồn thương 2 con một hy sinh, một bị tù đày chưa vơi, năm 1969 mẹ lại đón nhận tin con trai Võ Văn Nọ hy sinh khi là du kích xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Đau thương chồng chất, ông Võ Văn Thì chịu đựng không nổi nên qua đời. Chỉ trong vòng 2 năm, mẹ mất đi 3 người thân yêu, một người con khác chưa biết sống chết trong ngục tù của địch. Từ đó, mẹ hay ngồi ngơ ngẩn vì nhớ các con, lại thường nhớ trước quên sau. Người anh trai của mẹ thấy vậy vào năm 1972 đã đưa mẹ vào xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc ở một thời gian. Nơi quê mới, mẹ dần nguôi ngoai và tỉnh táo trở lại, vì vậy năm 1974 con trai Võ Văn Trương đã đưa gia đình vào sống chung để chăm sóc mẹ. Mẹ qua đời ngày 9/12/2013 tại ấp Trung Tín, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc. Mẹ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 2393/QĐ-CTN ngày 26/9/2014.



