Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Biện
Nguyễn Thị Biện (1911-2006) Năm 1995 chúng tôi đến thăm thì má vẫn khỏe mạnh ở cái tuổi 84, vẫn tự mình cuốc đất trồng rau. Câu đầu tiên má chào khách là: “Già rồi, ngồi không, chịu hổng nổi”. Má rối rít mời khách vào nhà, xăng xái pha trà và hỏi đủ thứ chuyện với tính cách quen thuộc của một bà má Nam Bộ. Nhiều lúc khách phải bật cười vì những từ dùng rất có duyên của má trong suốt câu chuyện. Tiếng đệm má vẫn thường thốt ra khi nói về những việc đã qua: “Trời đất ơi! Hồi đó khổ dễ sợ lắm con.” On, Đơ, Troa, Xít, Xết - đó là lần lượt tên gọi chồng và các con của má. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên về cách đặt tên ngộ nghĩnh và hóm hỉnh này, má cười giải thích: “Lúc đó, sống trong trào Tây, sẵn ổng tên On nên má đặt luôn một lèo để kêu cho nó vui vậy mà”. Nghe hỏi về chồng mình, má nói như giận dỗi:- Ổng có phụ gì được cho má đâu. Thời chín năm thì theo bộ đội ông Huỳnh Văn Nghệ sống ở chiến khu, má ở nhà làm lụng nuôi hai thằng Đơ và Troa, phần lo tiếp tế vô rừng cho các anh em trong đó. Sau khi đình chiến, thỉnh thoảng ổng có về nhà mấy lần, dặn má ráng nuôi con khôn lớn rồi ổng sẽ dẫn đi theo kháng chiến. Cũng lần lượt má sinh thêm một hơi ba đứa nữa (một người đã mất từ lúc lọt lòng). Đang hồ hởi nói, giọng má chợt trầm xuống: ổng hy sinh năm 1972, nghe đâu ở Trảng Bom, bị lọt ổ phục kích. Giặc giữ xác ổng đến trương sình ra. Lúc đó ổng là Trưởng ban BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TỈNH ĐỒNG NAI kinh tài quận Vĩnh Cửu. Về việc cho hai con theo cách mạng giữa tai mắt giặc mà không bị chúng làm khó dễ, má cười thật tươi:- Mình phải có biện pháp của mình chớ. Trước đó, má móc nối nhờ người về dẫn con đi. Nửa đêm nó lên đường. Sáng sớm hôm sau má chạy lên xã báo con mình bị bắt mất tích không thấy về, rồi má khóc mếu máo. Địch nó đâu có tin, nhưng không có chứng cớ nên cũng chẳng làm gì được. Má kể, cuộc đời của má “cực như con trâu kéo cày”. Từ nhỏ, má đã phải ở mướn cho nhà giàu trong làng để kiếm cơm. Lấy chồng cũng nghèo nên nương tựa nhau mà sống. Chồng rồi tiếp đến các con lớn đi kháng chiến, hai đứa còn nhỏ dại và một cháu nội (con anh Nguyễn Văn Đơ) đều trông cậy vào sự chăm sóc, dưỡng nuôi của má. Mỹ gom dân vào ấp chiến lược, nhà bị đốt, má dẫn con chạy khỏi ấp chiến lược mà chỉ còn bộ quần áo trên người. Không còn chốn nương thân, má xin tá túc nhà người quen. Quanh năm đi làm mướn để kiếm tiền nuôi con, nuôi cháu, không việc gì mà má nề hà, từ rửa chén, giặt giũ, gánh nước ở Biên Hòa, gánh đá thuê ở Bửu Long vào những lúc nông nhàn, đến thời vụ lại quay về Bình Thạnh lãnh cắt lúa cho người ta. Nhiều khi quá cực nhọc tưởng mình sẽ quỵ xuống, nhưng nhớ đến những đứa trẻ, má lại gượng đứng dậy. Sợ con cháu dốt nát như đời mình, má gắng cho các cháu đi học kiếm chữ “phòng thân”, hy vọng đời nó sau này sẽ khá hơn. Tôi buột miệng:- Cực khổ như vậy, sao má không giữ hai anh lớn ở nhà đỡ đần công việc? Mẹ trả lời không đắn đo: 537 SÁNG NGỜI CHẤT NGỌC ANH HÙNG- Má nghĩ mình không được phép làm như vậy, sẽ mắc tội với chính phủ. Vả lại, nếu bà má nào cũng giữ con mình ở nhà thì làm sao được tự do, độc lập như ngày hôm nay. Rồi đời con, đời cháu cũng sẽ nghèo nàn tối tăm như đời má vậy. Tôi thấy cay nơi khóe mắt. Lời nói chân thành giản dị của bà má cả đời cùng cực về một điều ao ước làm tôi xúc động. Má nói cho tôi nghe mà như nói với chính mình:- Thằng em hy sinh trước, năm 1967. Tên cúng cơm của nó là Troa, do khó đọc nên anh em gọi trại là Hoa. Nó vướng phải mìn, chết ở Chiến khu Đ. Sang năm 1972, đến lượt Hai Đơ hy sinh. Cái chết oanh liệt lắm. Lọt vào ổ phục kích, nó chiến đấu đến bị thương, giặc dụ đầu hàng sẽ đưa đi bệnh viện và cho về nhà. Nó chửi lại, bị địch bắn chết, xẻo mất hai lỗ tai. Ngày giải phóng, má có đi tìm hài cốt của ba cha con nó, nhưng không thấy được mảnh xương nào. Giọng má cứ đều đều, tôi nghe lạnh buốt sống lưng. Không dám nhìn mặt má đang hướng tầm mắt ra khoảng sân hẹp trước nhà, vì trong đôi mắt ấy, đang có lửa. Tựa lưng vào thành ghế, má trút dòng tâm sự:- Má sinh ra rồi lớn lên ở làng quê Bình Lợi, năm nay đã 84 tuổi rồi, được chết trên quê cha đất tổ là điều đáng mừng. Ông bà nói: sống ở nhà, thác ở mồ. Cả đời má không có nơi ở ra hồn, may nhờ chính phủ cấp cho căn nhà tình nghĩa để má nương náu thân già. Phần mộ xây trước của má cũng bằng tiền Nhà nước cho hôm phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Đời má như vậy là thỏa nguyện, có nhắm mắt cũng thấy ấm hương hồn. Má được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má qua đời năm 2006.



