Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Chính

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Chính sinh năm 1905 tại làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Năm 18 tuổi, Mẹ xây dựng gia đình và về sinh sống tại quê chồng ở ấp Mỹ Thuận, làng Mỹ Thọ. Chồng Mẹ là ông Trần Văn Lương (sinh năm 1906), một đảng viên thuộc Chi bộ Cao Lãnh trong thời kỳ vận động cách mạng sôi nổi những năm 1927 – 1930.

Đồng Tháp31/07/2026xã Thanh Hưng (Xã Thanh Hưng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Chính sinh năm 1905 tại làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Năm 18 tuổi, Mẹ xây dựng gia đình và về sinh sống tại quê chồng ở ấp Mỹ Thuận, làng Mỹ Thọ. Chồng Mẹ là ông Trần Văn Lương (sinh năm 1906), một đảng viên thuộc Chi bộ Cao Lãnh trong thời kỳ vận động cách mạng sôi nổi những năm 1927 – 1930.

Trong cuộc “khủng bố trắng” của chính quyền thuộc địa Pháp năm 1932, ông Trần Văn Lương bị bắt cùng nhiều đồng chí khác, bị kết án tù và đày đi Côn Đảo, Bà Rịa, sau đó bị quản thúc. Không khuất phục, ông vượt ngục trở về và tiếp tục dấn thân khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lần lượt tham gia Du kích tỉnh Sa Đéc, Chi đội 18 Vệ Quốc đoàn và Trung đoàn 115. Những năm tháng bị tra tấn, tù đày khắc nghiệt đã để lại trong người ông nhiều di chứng bệnh tật hiểm nghèo; ông trọng bệnh và từ trần ngày 21 tháng 5 năm 1950, sau đó được Nhà nước công nhận là liệt sĩ.

Khi người bạn đời hy sinh, Mẹ Nguyễn Thị Chính vừa tròn 45 tuổi. Một mình Mẹ gánh vác gian khó, tần tảo nuôi dạy 7 người con khôn lớn trong khói lửa chiến tranh. Tự hào nối bước người cha hy sinh vì nước, các con của Mẹ lần lượt lên đường tham gia kháng chiến. Dù quặn đau và khóc hết nước mắt mỗi lần nhận tin dữ, Mẹ vẫn kiên cường làm hậu phương vững chắc:

  • Người con thứ ba là anh Trần Văn Dân (sinh năm 1927). Năm 20 tuổi, anh đi bộ đội, gia nhập Trung đoàn 115 và anh dũng hy sinh ngày 19 tháng 5 năm 1947 tại Đất Đỏ, Campuchia (vùng tiếp giáp biên giới Đồng Tháp).

  • Người con thứ tư là anh Trần Thanh Khiết (sinh năm 1929). Anh vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 311, giữ chức vụ Trung đội trưởng trinh sát. Ngày 7 tháng 2 năm 1953, trên đường hành quân qua đình Mỹ Thọ (nay là chợ huyện Cao Lãnh), anh bị địch phục kích và hy sinh.

  • Người con thứ bảy là anh Trần Văn Côn (sinh năm 1938). Sau phong trào Đồng khởi năm 1960, anh tham gia Du kích xã Mỹ Thọ và anh dũng ngã xuống vào ngày 6 tháng 3 năm 1962.

  • Không chỉ có ba người con liệt sĩ, các con còn lại của Mẹ cũng đều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng:

    • Người con thứ năm là chị Trần Thị Kim Lan, tham gia công tác cách mạng từ sớm. Năm 1962, do bị lộ, chị tạm lánh vào chùa Nước Lộn và từ đó nương nhờ cửa Phật, đi tu tại đây.

  • Người con út là anh Trần Minh Thuật (sinh năm 1940), từ nhỏ đã là thiếu sinh quân. Năm 1954, anh tập kết ra Bắc và được cử đi học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, anh trở về nước công tác tại binh chủng Phòng không - Không quân với vai trò kỹ sư sửa chữa máy bay chiến đấu (nay anh đã nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh).

  • Gia đình Mẹ Nguyễn Thị Chính là tấm gương sáng ngời về một gia đình hai thế hệ nối tiếp nhau chiến đấu và cống hiến trọn vẹn cho độc lập dân tộc.

    Mẹ Nguyễn Thị Chính qua đời năm 1992. Để ghi nhận những đóng góp, hy sinh vô giá của Mẹ và gia đình, ngày 17 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng Mẹ danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn