Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Đây
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Đây sinh năm 1906, quê tại làng Bình Hàng Trung (nay thuộc xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Chồng của Mẹ là ông Trần Văn Ngự, sinh năm 1902, cùng quê hương Bình Hàng Trung. Gia đình Mẹ sống bằng nghề làm ruộng, chắt chiu nuôi dạy các con trưởng thành trong tình yêu quê hương và đất nước.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Đây sinh năm 1906, quê tại làng Bình Hàng Trung (nay thuộc xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Chồng của Mẹ là ông Trần Văn Ngự, sinh năm 1902, cùng quê hương Bình Hàng Trung. Gia đình Mẹ sống bằng nghề làm ruộng, chắt chiu nuôi dạy các con trưởng thành trong tình yêu quê hương và đất nước.
Vợ chồng Mẹ sinh hạ được 5 người con (3 trai, 2 gái). Nhờ sự giáo dục giàu lòng yêu nước và động viên từ Mẹ, các con của Mẹ đều lần lượt tham gia kháng chiến và có nhiều đóng góp, hy sinh to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Người con trai thứ hai của Mẹ là anh Trần Văn Lộ (sinh năm 1932), tham gia cách mạng từ năm 1958. Anh từng là giao liên xã Bình Hàng Trung và sau đó giữ chức vụ Hội trưởng Hội Nông dân huyện Cao Lãnh. Anh đã anh dũng hy sinh ngày 20 tháng 5 năm 1972 và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba.
Người con gái thứ ba là chị Trần Thị Sương, tham gia cách mạng năm 1960 với vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh. Chị đã ngã xuống và hy sinh vào năm 1966.
Người con trai thứ tư là anh Trần Văn Ảnh (sinh năm 1942), dấn thân vào con đường cách mạng từ năm 1959. Anh là Trưởng ban Giao liên xã Bình Hàng Trung, đồng thời là thành viên Ban Chấp hành Xã đoàn. Anh đã hy sinh ngày 26 tháng 3 năm 1963.
Người con thứ năm là anh Trần Văn Sáng (sinh năm 1944), tham gia cách mạng năm 1959. Ban đầu anh là giao liên xã Bình Hàng Trung, sau đó phát triển trở thành Trung đội trưởng Thông tin thuộc bộ đội tỉnh Kiến Phong. Anh hy sinh ngày 26 tháng 11 năm 1969 và được ghi nhận với nhiều Bằng khen, Giấy khen cao quý.
Ngoài các con ruột, gia đình Mẹ còn chịu thêm nỗi đau khi anh Lê Lâm (sinh năm 1943) — Trưởng trạm Y tế xã Mỹ Hội, tham gia cách mạng năm 1961 — cũng đã anh dũng hy sinh ngày 26 tháng 8 năm 1968.
Không chỉ có các con ngã xuống trên chiến trường, các con còn lại của Mẹ cũng phải chịu cảnh tù đày gian khổ. Người con trai trưởng là anh Lê Văn Bơ (sinh năm 1927), tham gia cách mạng năm 1951, đến năm 1969 bị địch bắt giam cầm, mãi đến sau năm 1973 mới được trao trả về địa phương và sau này được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì. Người con gái út là chị Lê Thị Phi (sinh năm 1945) tham gia kháng chiến cũng bị địch bắt tù đày năm 1969, sau này chị được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì.
Những mất mát, hy sinh của các con là nỗi đau khôn nguôi nhưng cũng là niềm tự hào to lớn của Mẹ và gia đình. Sau những năm tháng kiên cường sống và cống hiến, Mẹ Nguyễn Thị Đây lâm bệnh qua đời vào năm 1985 (tuổi già sức yếu).
Để tri ân và ghi nhận tấm lòng nhân ái, sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại ấy, ngày 17 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng Mẹ danh hiệu vinh dự Nhà nước: BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG.



