Bài viết

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ DOÃN

Ninh Bình13/05/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ DOÃN

Mẹ tên thật là : Nguyễn Thị Doãn (thường gọi là cụ Doãn)

Mẹ sinh năm : 1912 (Mất năm 2005, thọ 93 tuổi)

Quê quán:Thôn Mai Cầu, xã Thanh Nguyên, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Danh hiệu:Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (truy tặng năm 1994).

• Kỹ thuật giấu cán bộ “không tưởng”

Trong những năm 1950 – 1954, khi bốt giặc mọc lên như nấm xung quanh xã Thanh Nguyên, việc nuôi giấu cán bộ là đối đầu trực tiếp với cái chết.

Chi tiết chiếc hầm: Mẹ Doãn không chỉ đào hầm dưới gầm giường mà còn sáng tạo ra cách giấu người ở chuồng lợn. Mẹ thiết kế một lớp sàn giả phía dưới, bên trên vẫn nuôi lợn bình thường để mùi hôi và tiếng động của con vật đánh lạc hướng chó nghiệp vụ của giặc.

Tín hiệu ngầm: Mẹ dùng một chiếc mõ tre. Khi mẹ gõ túc tắc chậm rãi là “an toàn”, nhưng hễ mẹ gõ dồn dập hoặc tiếng gậy tre khua mạnh vào lu đựng nước là báo hiệu quân giặc đang vào đầu ngõ để cán bộ kịp thời rút xuống hầm bí mật.

•Cuộc đối đầu nghẹt thở năm 1952

Đây là sự việc cho thấy bản lĩnh phi thường của mẹ khi bị giặc bắt tại bốt Thanh Nguyên:

Bị chỉ điểm: Do có kẻ phản bội, quân Pháp ập vào nhà mẹ giữa lúc có 3 cán bộ huyện đang họp dưới hầm. Chúng không tìm thấy hầm nhưng tin chắc có người bên trong nên bắt mẹ đi tra tấn.

Đòn tra tấn “Nước và Điện”: Chúng dùng đòn “đi tàu bay” (treo ngược người lên trần nhà) rồi đổ nước xà phòng vào mũi, miệng mẹ. Sau đó, chúng dùng điện cực chích vào màng tai và đầu ngón tay mẹ để ép mẹ khai nơi đặt hầm.

Phản ứng của mẹ: Giữa những cơn đau chết đi sống lại, mẹ chỉ lặp đi lặp lại một câu bằng giọng Hà Nam rặt: “Tao dân quê chỉ biết đồng ruộng, hầm hố gì tao không biết, các ông muốn giết thì giết!”. Sự lì lợm của một người đàn bà gầy gò đã khiến tên chỉ huy Pháp phải kinh ngạc. Chúng giam mẹ 3 tháng ròng, tra tấn đủ kiểu nhưng cuối cùng đành phải thả vì không lấy được một chữ nào.

• Ba lần nhận tin dữ và sự im lặng đáng sợ

Cuộc đời của mẹ Doãn gắn liền với nỗi đau mất mát 3 người con trai là Liệt sĩ:

Lần 1 (1968): Mẹ nhận giấy báo tử của con trai cả hy sinh tại chiến trường Quảng Trị. Mẹ lặng lẽ ra sau vườn, chặt một cành củi khô, bẻ gãy làm đôi như một cách giải tỏa nỗi đau rồi lại vào bếp nấu cơm cho bộ đội.

Lần 2 & 3: Hai người con tiếp theo lần lượt ngã xuống chỉ cách nhau chưa đầy 2 năm. Hàng xóm kể lại rằng, đêm mẹ nhận tin con út hy sinh, mẹ không khóc thành tiếng. Mẹ ngồi tựa lưng vào cột nhà suốt đêm, đôi mắt khô khốc nhìn ra phía trận địa pháo đang rực sáng phía xa. Sáng hôm sau, mẹ lại dậy sớm, gánh nước tiếp tế cho trận địa như chưa có chuyện gì xảy ra. Mẹ bảo: “Con tao chết cho nước, tao phải sống để giúp anh em nó bắn rơi máy bay Mỹ”

Sau này khi hòa bình, mẹ vẫn giữ một chiếc áo trấn thủ cũ sờn. Đó là chiếc áo mẹ đã thức trắng đêm khâu cho người con trai cả trước ngày anh lên đường. Chiếc áo được gửi trả về cùng với những kỷ vật của anh. Mẹ coi đó là báu vật, mỗi khi trời trở gió lại mang ra nhìn, như thể hơi ấm của con vẫn còn ở đó.

Cuộc đời mẹ Doãn là minh chứng cho thấy tinh thần quật cường của người phụ nữ . Mẹ không chỉ là người xây hầm nuôi cán bộ mà mẹ còn là “ người mẹ thép “ đã hiến dâng những gì quý giá nhất của đời mình cho độc lập dân tộc

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn