Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Đời
Mẹ vừa được Nhà nước truy tặng danh hiệu vinh dự “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo Quyết định truy tặng số 3346/QĐCTN ngày 16 tháng 12 năm 2014.
Tính đến nay, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ta đã đi qua gần nửa thế kỷ. Những vết thương chiến tranh cũng liền theo năm tháng. Chúng tôi – thế hệ được sinh ra và lớn lên khi đất nước được hoàn toàn giải phóng và thế hệ chúng tôi chỉ biết đến các anh hùng liệt sĩ từ những Bằng Tổ quốc ghi công và hàng ngàn bia mộ trong nghĩa trang liệt sĩ. Biết những chiến công hiển hách của các anh qua những trang lịch sử của Đảng bộ. Còn sự hy sinh âm thầm của những người vợ, người mẹ mất chồng, mất con trong hai cuộc kháng chiến chỉ khi về thăm Mẹ và gia đình, chúng tôi mới hiểu nỗi đau thương và sự hy sinh của Mẹ là vô cùng to lớn. Đó là mẹ Nguyễn Thị Đời, Mẹ vừa được Nhà nước truy tặng danh hiệu vinh dự “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo Quyết định truy tặng số 3346/QĐCTN ngày 16 tháng 12 năm 2014.
Tiếp chúng tôi trong căn nhà tình nghĩa được Nhà nước trao tặng năm 2005, Ông Nguyễn Văn Hưng (Mười Hưng) là cháu của Mẹ cho biết. Mẹ tên thật là Nguyễn Thị Đời, sinh năm 1915, sinh ra tại ấp Phú Đa, xã Vĩnh Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Cũng như bao người con gái khác khi đến tuổi thành gia lập thất, Mẹ lập gia đình với ông Trần Văn Mẹo cùng quê với Mẹ, chồng Mẹ cũng là một nông dân nghèo sống bằng làm nghề làm thuê, làm mướn. Gia đình hai bên đều nghèo nên khi ở riêng với hai bàn tay trắng Mẹ cùng chồng tiếp tục làm thuê nuôi sống gia đình ở ấp phú Đa (nay là ấp Phú Bình). Sống với ông Mẹo, Mẹ sinh được 2 người con trai: anh Trần Văn Mừng sinh năm 1944 và anh Trần Văn Triều sinh năm 1948. Những tưởng cuộc đời của Mẹ đã được bình yên cùng chồng làm lụng để nuôi con, nào ngờ ông Mẹo bệnh và qua đời để lại cho Mẹ 2 con thơ. Sau đó Mẹ gặp ông Trần Văn Ngẫu - người cùng quê và sinh được 1 người con trai là anh Trần Văn Y (Sơn Hà) đến năm 1975 ông Ngẫu qua đời.
Sống trong cảnh chiến tranh, Mẹ hiểu thế nào là cuộc sống của người dân bị mất nước, Mẹ sớm giác ngộ cách mạng. Chính vì vậy mà mẹ luôn nhiệt tình ủng hộ cách mạng và biết giáo dục con cái, lần lượt động viên, đưa tiễn các con tham gia kháng chiến. Năm 1960, anh Trần Văn Mừng tham gia cách mạng ở Cái Tàu, tỉnh Đồng Tháp và anh đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch ngày 03 tháng 06 năm 1969. Lúc anh hy sinh tuổi đời còn rất trẻ (25 tuổi). Đến năm 1967 Anh Trần Văn Triều theo bước chân người anh lại tiếp tục tham gia cách mạng là bộ đội chiến đấu đơn vị Địa phương quân huyện Chợ Lách, ngày 28 tháng 05 năm 1974 trong một trận chiến đấu tại Hưng Khánh Trung anh Triều đã hy sinh khi đó anh 24 tuổi.
Hai lần tiễn con đi, hai lần Mẹ khóc thầm lặng lẽ vì các con của Mẹ lần lượt hy sinh khi tuổi đời còn trẻ. Đây là nỗi đau đớn vô cùng to lớn đối với Mẹ. Nhưng không làm cho Mẹ nản lòng chùn ý. Năm 1968 Mẹ lại tiếp tục tiễn người con út là Anh Trần Văn Y (Sơn Hà) tham gia cách mạng là bộ đội ở Trung Đoàn Đồng Khởi, sau đó điều về vệ binh, bị giặc bắt và kết án tử hình. Trong lúc giặc đem anh ra để thi hành án tử hình anh đã liều lĩnh nhảy xuống sông thoát thân, may mắn thoát chết nhưng anh đã bị giặc bắn bị thương nặng trở thành thương binh.
Trong khoảng thời gian 1967-1968, các con của Mẹ tham gia cách mạng chiến đấu ở nhiều nơi. Tại quê nhà (ấp Phú Đa), bọn Bảo an quận thường xuyên phối hợp với lính địa phương đánh phá cơ sở cách mạng, chà xát địa bàn hoạt động của ta, gây cho ta nhiều tổn thất. Tuy nhiên với phương châm “bám trụ và bung ra hoạt động”, lực lượng vũ trang và cán bộ lãnh đạo xã được nhân dân che chở và ngôi nhà Mẹ đang ở cũng là nơi che giấu cán bộ. Nhà Mẹ có một cái hầm nuôi cán bộ, xóm giềng thường gọi nhà Mẹ là nhà vách đôi: vách ngoài là cựa củi, trong là vách lá còn ở giữa là chỗ trống để nuôi giấu cán bộ. Bản thân mẹ còn làm giao liên với sự gan dạ, mưu trí Mẹ đã nhiều lần qua mắt được bọn lính và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cách mạng giao.
Khi đất nước được hoàn toàn thống nhất (30 tháng 4 năm 1975), anh Trần Văn Y (Sơn Hà) tiếp tục tham gia vào công an của ấp. Đến năm 1981, anh xin nghỉ do sức khỏe và mất năm 1991. Còn Mẹ Nguyễn Thị Đời thì sống với người cháu là Trần Văn Chệt. Năm 1994 do tuổi cao, sức khỏe yếu Mẹ đã về cõi vĩnh hằng trong một cơn bạo bệnh.
Nghe kể chuyện về Mẹ, tôi thầm nghĩ cả cuộc đời cơ cực của Mẹ không chỉ lo cuộc sống cho chồng cho con mà còn dâng hiến các con của mình cho quê hương đất nước, tấm gương của Mẹ rất xứng đáng để chúng ta noi theo.



