Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Huệ (1912-1980)

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Huệ (1912-1980)

Đồng Nai06/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Nguyễn Thị Huệ sinh năm Nhâm Tý (1912) tại làng Bình Trưng, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là huyện Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh) trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên, mẹ lập gia đình, chồng mẹ

cũng nghèo, quê làng Vĩnh Tuy, xã Long Tân, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai), cha mẹ chồng chỉ có ít ruộng vườn nên vợ chồng mẹ phải làm mướn thêm kiếm sống. Đời mẹ là chuỗi dài những ngày cực nhọc, cay đắng, đau khổ từ lúc cất tiếng khóc chào đời đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, chồng mẹ tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong rồi vào quốc gia tự vệ cuộc (sau đổi là công an).

Khi thực dân Pháp trở lại xâm chiếm nước ta lần nữa, ông hoạt động nội thành vùng Xóm Chiếu cạnh cảng Sài Gòn. Mẹ sống ở quê hương, ít có dịp đi thăm chồng vì xã Long Tân suốt thời gian dài là vùng ta làm chủ hồi đó gọi là vùng độc lập; còn vùng địch chiếm gọi là khu nô lệ. Đi đường đã lắm khó khăn, mẹ lại không có giấy tờ tùy thân, cho nên mẹ chỉ đi theo người dẫn đường quen biết. Mặt khác, mẹ lo không có ai trông nom con trai độc nhất Đoàn Văn Sáng hồi đó chưa tới 10 tuổi, đang ở lứa tuổi hiếu động khó quản. Lâu lâu, địch tiến hành bố hội, tàu chở quân đổ bộ theo sông Đồng Nai, mấy cánh quân bộ từ các xã lân cận theo nhiều ngã ruộng, đường làng càn vào bắt người, cướp của, đốt phá tài sản, nhà cửa của dân rồi rút ngay trong ngày. Mẹ lo làm ăn nuôi con, tuy nghèo song cũng có hũ gạo kháng chiến đóng góp với xóm làng, sẵn sàng nấu cơm cho du kích bộ đội ghé qua... Chồng mẹ chết khoảng năm 1951 khi con trai chưa tới 14 tuổi. (Mẹ không tìm gặp được bạn bè cũ của ông để hỏi rõ ông chết trong trường hợp nào, mồ mả ở đâu).

Anh Đoàn Văn Sáng (Tỏ) lớn lên được mẹ Huệ cưới vợ cho và ít lâu sau sinh con gái. Đó là thời kỳ Đồng khởi khắp miền Nam sau Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II), Đảng chủ trương dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng của Mỹ - ngụy. Ở quận Nhơn Trạch, nhân dân nhiều xã trong đó có xã Long Tân đêm đêm tổ chức mít tinh, tuần hành, diệt ác, phá kềm rất sôi nổi với khí thế những ngày Tổng khởi nghĩa năm xưa. Phản ứng lại, địch thực hiện kế hoạch Staley - Taylor nhằm bình định miền Nam trong 18 tháng. Chúng lập các ấp chiến lược khắp quận Nhơn Trạch cũng như các nơi khác. Lính xách súng đi xúc tát dân, gom vào trong vòng rào dây kẽm gai thực hiện âm mưu “tát nước bắt cá”. Mặt khác, máy bay Mỹ nhiều ngày rải chất độc hóa học khắp quận, hủy diệt lúa, hoa màu, vườn cây ăn trái, ép dân vào vùng chúng kiểm soát, đánh vào cơ sở hậu cần của lực lượng giải phóng.

Từ tháng 6/1962, Huyện ủy Nhơn Trạch lãnh đạo nhân dân các xã tiến hành đấu tranh chính trị. Đội quân tóc dài liên tục kéo tới quận đấu tranh đòi địch chấm dứt việc rải chất độc hóa học, không bắn pháo vào xóm làng giết hại dân thường... Tháng 7/1962, du kích Phước An hỗ trợ bộ đội địa phương 19-5 Long Thành tiến công diệt bót Gò Cát thắng lợi. Khí thế chiến thắng dâng cao gây niềm phấn khởi lớn cho nhân dân toàn quận Nhơn Trạch. Ngay sau đó, lực lượng ta lại hạ bót Tam An, phá ấp chiến lược Tam An. Tin vui bay về Long Tân thôi thúc anh Đoàn Văn Sáng tìm gia nhập đơn vị bộ đội 19-5 vào tháng 8/1962.

Anh tham gia chiến đấu cơ động trên địa bàn hai huyện Long Thành, Nhơn Trạch. Mẹ Huệ và vợ anh nhiều lần đi thăm anh, dù nghèo cũng mang theo những thứ ăn mà đồng đội thiếu thốn. Đơn vị C1 Long Thành về sau phát triển thêm C2. Tiến bộ trong công tác và chiến đấu, anh Đoàn Văn Sáng trở thành Trung đội trưởng của C2 và được giữ cây súng M.79 của trung đội. Anh chịu khó rèn luyện kỹ thuật nên có thể bắn đâu trúng đó, anh em trong đơn vị rất nể tài xạ kích của anh.

Giữa tháng 5/1972, đơn vị anh về đóng ở ấp 5 xã Tam An, bảo vệ Ban cán sự Đảng thị trấn Long Thành đứng chân tại Tam An. Ngày 25/5/1972, mẹ Huệ tìm đến thăm anh, song vì bận công tác và chưa hẹn trước, anh không ra được. Mẹ đành quay về Long Tân. 8 giờ tối hôm sau 26/5/1972 (14 tháng 4 năm Nhâm Tý), địch đụng bộ đội C2. Hai bên nổ súng dữ dội. Anh Sáng phát hiện địch, cầm cây M.79 bắn một trái trúng đội hình địch, diệt một số tên. Anh di chuyển ở góc hè nhà anh Tư Lệ thì một trái M.79 của địch rơi trúng, anh hy sinh tại chỗ. Đồng đội chôn cất anh ở Tam An, trong một thửa vườn, cùng một liệt sĩ khác, nay chưa tìm thấy mộ. Khá lâu sau này mẹ Huệ mới biết tin con trai không còn. Vợ anh phải đi nơi khác sinh sống, vì hoàn cảnh ngặt nghèo, đã đi bước nữa. Mẹ vô cùng đau xót vì mất con, lại thêm đau vì mất luôn con dâu. Mẹ đã già, ráng làm nuôi cháu gái côi cút tội nghiệp còn nhỏ.

Sau ngày giải phóng, mẹ được hưởng chế độ chính sách. Năm 1980 mẹ ngã bệnh qua đời. Bà con trong làng thương xót mẹ, an táng cho người quá cố. Mẹ hết lo buồn, đau đớn, được gặp lại chồng con ở cõi vĩnh hằng. Mẹ được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn