MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ HUỆ (1918 - 1966)
Mẹ Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1918, trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Lớn lên mẹ lập gia đình, về sống bên gia đình chồng ở ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, làm nghề thợ may. Mẹ sinh được 7 người con (3 trai, 4 gái). Mẹ tạo điều kiện cho chồng và động viên, giáo dục các con tham gia hoạt động cách mạng. Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bản thân mẹ, chồng và 2 con đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Ngày 1-1-1960, mẹ tham gia hoạt động cách mạng, làm Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc xã Mỹ Hạnh Đông. Năm 1966, mẹ là Thường vụ xã ủy kiêm Hội trưởng Hội Phụ nữ - phụ trách công tác giáo dục, binh vận. Ngày 27-3-1966, thực hiện kế hoạch của chi ủy xã: cất trường học tại ấp Mỹ Lương để dạy học cho con em đồng bào bám trụ (thời kỳ giặc Mỹ thực hiện kế hoạch tìm diệt, bình định), trên đường chở lá lợp trường học, mẹ bị máy bay địch phát hiện, phóng rốc két hy sinh, an táng tại ấp Mỹ Lương, xã Mỹ Hạnh Đông. Được công nhận liệt sĩ. Với công lao trên, mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Được công nhận liệt sĩ ngày 6-10-1977. Hồ sơ số: TG/LS-4582. Bằng Tổ quốc ghi công số: 1Đ-389C.
Chồng mẹ, liệt sĩ Trương Văn Điệp (bí danh Trương Hồng Lĩnh), thường gọi là Năm Kiên, sinh năm 1916, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 1-1-1945, rồi đến chống đế quốc Mỹ. Năm 1952, ông được Đảng phân công làm Bí thư Huyện ủy Cai Lậy; năm 1957 đến năm 1959, làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Kiến Phong (nay là Đồng Tháp); năm 1960 đến năm 1962, làm Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho - Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy. Hy sinh ngày 2-9-1962, trong trận càn lớn của được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Tiền Giang. Ngày 17-6-1977, ông được công địch vào xã Hưng Thạnh, huyện Châu Thành (nay thuộc huyện Tân Phước). Hài cốt nhận liệt sĩ. Bằng Tổ quốc ghi công số: SM-437C. Hồ sơ số: TG/LS-1345.
Con mẹ, liệt sĩ Trương Văn Ngạn, sinh năm 1945, tham gia Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Mỹ Tho năm 1959. Ngày 2-9-1962, bị địch bắt, ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1963, gia nhập Tiểu đoàn 261, Quân khu 8, là đảng viên Đảng Lao động trên đường đi công tác đã hy sinh, an táng tại ấp Mỹ Lương, xã Mỹ Hạnh Đông. Việt Nam. Ngày 8-4-1971, tại xã Bàn Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Ngày 22-8-1977, được công nhận liệt sĩ. Bằng Tổ quốc ghi công số: 1S-054B. Hồ sơ so: TG/LS-3207.
Con mẹ, liệt sĩ Trương Thị Bé Sáu (thường gọi là Thúy Lan), sinh năm 1952, tham gia các hoạt động của Hội Thiếu niên ở ấp Mỹ Lương. Năm 1966, thoát ly vào công tác tại đơn vị cơ yếu - Tỉnh đội Mỹ Tho. Ngày 9-6-1969, trên đường đi công tác tại xã Hội Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, bị giặc bắn hy sinh. Hiện chưa tìm được hài cốt. Ngày 24-8-1977, được công nhận liệt sĩ. Bằng Tổ quốc ghi công số: 1S-469B. Hồ sơ số: TG/LS-4531. Năm người con của mẹ tham gia kháng chiến hiện nay đều trưởng thành.
Ngày 27-3-1966, mẹ qua đời. Ngày 17-12-1994, mẹ Nguyễn Thị Huệ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 394-KT/CTN truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Hiện nay, mẹ được con trai út là Trương Minh Hoàng, ngụ tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thờ cúng.

