Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Huệ
Ngày 31 tháng 3 năm 2020, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số: 412/QĐ-CTN truy tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam anh hùng cho Mẹ Nguyễn Thị Huệ.
Một ngày hè với trận mưa Nam như trút nước, lòng ai cũng rất vui sau những tháng ngày hạn mặn xâm nhập kéo dài. Tôi cùng đồng chí Hồng Nhung cán bộ Ban Tuyên giáo Đảng ủy xã Phú Sơn rất vất vả mới tìm được đến nhà chú Tư Binh, ở ấp Lân Bắc, xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Chú hiện là thương binh 2/4 người thờ cúng bà Nguyễn Thị Huê, người vừa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam anh hùng. Trên bàn thờ gia tiên với mâm cổ cúng tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 còn đó, thắp 3 nén hương thơm chúng tôi cùng khấn nguyện Mẹ nơi cõi vĩnh hằng hãy vui và yên nghỉ bởi Tổ quốc, đất nước, quê hương không bao giờ quên công ơn của các Bà, các Mẹ Việt Nam anh hùng.
Sau tách trà ấm, vài mẫu chuyện về kinh tế cuộc sống, sức khỏe của một thương binh già ở tuổi ngoài 70 dần dần chú Tư hồi tưởng nhớ lại những kỷ niệm vui buồn gian khổ của Nội, chú kể: Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Huê, sinh năm 1890, nguyên quán trước đây thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Mẹ sinh ra trong một gia đình bần nông nghèo khổ, có tất cả 3 chị em (1 chị gái, 1 em trai). Đến tuổi trưởng thành, Mẹ được điềm chỉ mai mối gả cho ông Võ Văn Điền, sinh năm 1889 lớn hơn Mẹ 1 tuổi, về làm dâu quê chồng ở ấp Mỹ Sơn Dưới, xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Từ đây, cuộc đời Mẹ gắn liền với quê chồng ấp Mỹ Sơn Dưới, nay là ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Gia đình bên chồng cũng là một gia đình tá điền nghèo khổ đông anh em (có tất cả 9 anh em), chồng Mẹ là người con trai lớn (thứ 2) trong gia đình. Tưởng rằng cuộc đời sẽ thay đổi nhưng không....kiếp nghèo vẫn là nghèo. Nghèo khổ, đói rách luôn đeo đuổi Mẹ vì thế, khi Mẹ có đứa con gái đầu lòng thì đã kiệt sức. không có sữa để nuôi con và đau đớn thay, đứa bé đã chết khi chưa đầy tháng tuổi.
Cảnh nghèo là vậy, thân Mẹ còn không đủ no lấy gì nuôi con Nhưng rồi vài năm sau (năm 1916), Mẹ lại tiếp tục sinh thêm cho Ông một người con trai và đặt tên là Võ Văn Quán. Và cũng chính cái nghèo đói, vì lo cho vợ, con đã vắt kiệt sức lực của Ông, ông Võ Văn Điền, chồng của Mẹ đã ngã bệnh và qua đời ở tuổi chỉ mới ngoài 30, để lại cho Mẹ đứa con thơ dại.
Đứt ruột vì mất chồng, mất đi người yêu thương đầu ấp tay gối. Mẹ nén nỗi đau vào lòng, cực lực lao động đi cấy mướn, làm thuê ai kêu gì Mẹ cũng làm, cố tìm cái ăn để nuôi dạy con đến ngày trưởng thành.
Sau cơn mưa trời lại sáng, tháng ngày lao động vất vả Mẹ đã được bù đắp. Anh Võ Văn Quán, con trai duy nhất của Mẹ đã trưởng thành lập gia đình rồi sinh cho Mẹ 03 đứa cháu nội ( 2gái, 1 trai). Tuy nghèo nhưng con cháu đủ đầy, ở cái tuổi 30 sống cảnh nghèo khổ của kiếp tá điền, cảnh bất công của xã hội, thấu hiểu cảnh đời, anh Võ Văn Quán, bắt đầu tham gia vào các tổ chức Hội kín, Hội Vạn vẫn đôi công, dán khẩu hiệu, rải truyền đơn tuyên truyền cách mạng và khi xã Phú Sơn có Chi bộ Đảng hoạt động anh là tổ thông tin của xã Phú Sơn.
Rồi một ngày kia vào tháng 10 năm 1952, giặc càng vào vùng giải phóng xã Phú Sơn, chúng đã ruồng bố bắt được anh Võ Văn Quán, con trai duy nhất của Mẹ, chúng đánh đập dã man đem về bót Bến Tre rồi biệt vô âm tính. Mẹ nghe tin sét đánh sau trận càn, Mẹ vội chạy khắp làng trên, xóm dưới nhưng vẫn không tìm được tung tích của con mình và kể từ đó cứ vào ngày 11 tháng 10 năm 1952 hàng năm được lấy làm ngày giỗ của anh Võ Văn Quán.
Trằn trọc, suy tư một lúc rồi Chú Tư Bỉnh kể tiếp: “ Từ ngày đó đến giờ, Nội chú và chú cố công tìm kiếm nhưng vẫn không biết được cha của mình bị giặc giết chết chôn xác ở đâu để tìm mồ mã quy tập về với gia đình....” Chỉ biết sau ngày miền Nam giải phóng thống nhất đất nước, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Văn Đồng ký quyết định công nhận anh là liệt sĩ theo Bằng Tổ quốc ghi công số BC: 026-C-19162.
Hòa bình lập lại sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, làng xóm yên vui, quê hương Phú Sơn là vùng giải phóng, gia đình được chính quyền cách mạng cấp đất. Mẹ đã lam lũ làm ăn để sống và phụ con dấu nuôi 3 đứa cháu nội thân yêu. Mẹ tham gia tổ chức Hội chị, Hội mẹ nuôi chứa cán bộ lãnh đạo xã trong nhà như: đồng chí Hồ Tấn Lực (Hoàng Kiếm), đồng chí Phạm Văn Chặc (Công Dân), đồng chí Nguyễn Văn Lư (Việt Hùng),... làng xóm yên vui không được bao lâu thì Luật 10/59 của chế độ Ngô Đình Diệm với chính sách tố cộng, diệt cộng đàn áp, bắt bớ người vô tội, gia đình có người thân tham gia cách mạng thật khổ sở và tàn ác nhưng Mẹ lúc nào cũng kiên trung với cách mạng với sự hy sinh của chồng dù bị bắt bớ, đánh đập. Đồng khởi 1960 thắng lợi, làng quê xã Phú Sơn là vùng giải phóng, Mẹ cho cháu nội của Mẹ là anh Võ Văn Bỉnh tham gia vào đội du kích xã nối tiếp truyền thống của cha.
Một đời Mẹ lao động vất vả sống vì chồng, vì con lo cho cháu cùng bảo vệ làng quê vùng giải phóng chưa được sung sướng bao lâu, thì Mẹ đã mãi mãi ra đi về cõi vĩnh hằng xa thẳm sau một cơn bạo bệnh (ngày 15 tháng 8 năm 1963 ÂL), hưởng thọ 73 tuổi.
Cuộc chiến đã đi qua gần nửa thế kỷ, phần mộ của Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Huê vẫn nằm đó trên phần đất vườn của gia đình, ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Còn anh Võ Văn Quán con của Mẹ đến nay vẫn chưa tìm phần mộ? Đó là nỗi đau day dứt của Mẹ trước khi nhắm mắt. Với những công lao thầm lặng và sự hy sinh cao cả của Mẹ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ngày 31 tháng 3 năm 2020, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số: 412/QĐ-CTN truy tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam anh hùng cho Mẹ Nguyễn Thị Huệ.
Kính mong Mẹ và các anh nơi cõi vĩnh hằng hãy yên nghỉ, chúng tôi - những người kế tục quyết học tập, lao động để góp phần xây dựng quê hương Phú Sơn ngày một giàu đẹp hơn xứng đáng với những gì mà Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Huê đã cống hiến,
Xin chân thành cảm ơn Mẹ!



