MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ KHEN
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ KHEN
Một ngày cuối tháng ba tôi đến UBND xã Vĩnh Hòa nhờ anh cán bộ Ban Tuyên giáo xã giúp đỡ thông tin để tìm hiểu về mẹ Nguyễn Thị Khen (bà Hai Khen). Người Mẹ vừa được Chủ tịch nước ký Quyết định số 3128/QĐ-CTN ngày 26 tháng 11 năm 2014 phong tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam anh hùng và tôi gặp được anh Lê Văn Chiến (Bảy Chiến) là con trai thứ bảy của Mẹ, người trực tiếp nuôi và phụng dưỡng Mẹ. Qua câu chuyện làm quen và sau khi anh đã nhận xong tiền trợ cấp hằng tháng cho Mẹ, chúng tôi đã về nhà anh ở ấp Gia Phước xã Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tại đây, tôi đã gặp Mẹ, người Mẹ phúc hậu, hiền hòa với nụ cười an lành của bà Mẹ xứ dừa quê tôi. Tuy tuổi Mẹ đã cao ở tuổi đại thọ nhưng Mẹ rất vui mỗi khi có con cháu về hay khách đến nhà là Mẹ thấy khỏe lại ngay để trò chuyện, để ngẫm lại sự đời thăng trầm, vui buồn của cuộc sống.
Dì Hai, bà Hai là tên thường gọi thân thương của Mẹ. Mẹ tên thật là Nguyễn Thị Khen sinh năm 1924 tại ấp Hòa Thuận I (nay là ấp Hòa I) xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre trong gia đình nông dân nghèo đông con có truyền thống yêu nước. Cha là ông Nguyễn Văn Sính, Mẹ là bà Lê Thị Dệt hoạt động cách mạng hy sinh trong kháng chiến chống Pháp được công nhận liệt sĩ. Mẹ có 8 chị em, Mẹ là chị lớn trong nhà và theo cách gọi thứ tự của người miền Tây Nam Bộ Mẹ là thứ hai. Hiện nay Mẹ còn một người em trai đi tập kết năm 1954 có gia đình sinh sống trên đất Bắc, một em gái sống ở Cà Mau và người em gái út sống ở xã Thạnh Ngãi huyện Mỏ Cày Bắc. Thuở ấy, chiến tranh loạn lạc cuộc sống đói khổ cho nên lớn lên mỗi người đi một phương để kiếm sống và tránh sự bắt bớ của kẻ thù vì gia đình Mẹ thuộc dạng có người thân đi cách mang nằm bìa đen của giặc.
Hồi tưởng lại cuộc đời mình, lúc nhớ, lúc quên Mẹ kể: Ngày ấy, nhà Mẹ nghèo lắm suốt ngày phải bám vào đồng ruộng để kiếm sống hết mùa cấy thì đi làm cỏ mướn, làm thuê đến mùa thì về phụ cha, mẹ gặt hái, chăm sóc các em. Tuổi ấu thơ của Mẹ là thế, đến tuổi trưởng thành, Mẹ là cô gái trẻ đẹp được nhiều gia đình chú ý gạ hỏi và được gia đình chấp nhận qua mai mối gã cho anh trai làng kế bên là ông Trịnh Văn Cứ lớn hơn Mẹ hai tuổi quê ấp Hòa An, xã Long Thới, huyện Chợ Lách, là một thanh niên hiền lành.
Hơn mười năm tình nghĩa vợ chồng, Mẹ đã sinh cho Ông ba người con, một gái, hai trai. Nhưng vì lao lực quá sức ông đã ra đi bỏ Mẹ lại với ba đứa con thơ dại. Buồn vì chồng mất, khổ cực vì cuộc sống. Từ đó, Mẹ đã trở về quê ở ấp Hòa I sinh sống và bước ngoặt thăng trầm đời Mẹ cũng từ đây.
Mẹ kể: ngày ấy, Mẹ là cô thôn nữ góa chồng có nhan sắc nên có nhiều người để ý, trong đó có cả tên lính ở bót Cầu Dầu khét tiếng ác ôn đeo đuổi Mẹ. Nắm được thông tin, cơ sở đã đến gặp Mẹ thực hiện kế hoạch dụ tên lính ác ôn ra khỏi đồn để lực lượng du kích xã Phước Mỹ Trung bắt trừng trị. Để đảm bảo bí mật công tác của Mẹ, tổ chức đã điều Mẹ đi nơi khác trốn tránh tiếp tục hoạt động cách mạng. Từ đó địa bàn công tác của Mẹ rộng hơn, thương Mẹ một thân, một mình vừa làm thuê, làm mướn nuôi ba con nhỏ và hoạt động công khai, lúc thì ở Châu Thành, lúc thì ở Mỏ Cày.
Rồi Mẹ gặp được ông Lê Văn Nhành một cán bộ hoạt động cách mạng ở ấp Phú Ninh, xã Phú Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông đem lòng yêu thương và phụ giúp Mẹ cùng lo cho các con. Mẹ và ông Nhành từ đó đã sống hạnh phúc và sinh được bốn người con, một gái, ba trai. Năm 1960, phong trào Đồng Khởi diễn ra Mẹ cũng đã có mặt trong đội quân tóc dài đi đấu tranh trực diện với kẻ thù ở Chi khu Đôn Nhơn, thị xã Bến Tre. Nhiều lần bị bắt, bị đánh, bỏ đói, bỏ khát, phơi nắng, ngâm nước nhưng Mẹ không sợ, có lẽ vì lòng câm thù giặc, vì hình ảnh kẻ thù bắt cha, mẹ mình đánh đập bắn chết vẫn còn ám ảnh trong tâm trí Mẹ đến ngày nay.
Tháng hai năm 1962, anh Lê Văn Văn sinh năm 1941 con trai thứ ba của Mẹ với ông Trịnh Văn Cứ (chồng trước của Mẹ) do công nuôi dạy của ông Nhành nên anh mang họ Lê tham gia vào lực lượng địa phương quân Chợ Lách và anh dũng hy sinh vào ngày 29 tháng 7 năm 1963 trong đêm đi công tác bằng xuồng trên sông, qua cầu kênh lộ ấp Tần An, xã Long Thới bị bọn giặc phát hiện bắn chết kéo xác anh vào bờ phơi nắng bên cầu Khe Sanh (xã Long Thới đường Tỉnh lộ 30 nay là quốc lộ 57) một ngày đêm và vùi thây anh tại đó không cho lấy xác.
Mẹ chết lặng khi hay tin anh hy sinh, Mẹ khóc thật nhiều vì nhớ thương anh, Mẹ chỉ biết than trách chiến tranh sao quá ác nghiệt làm cho bao gia đình phải ly tán. Và một buổi chiều oan nghiệt lại đến với Mẹ, ông Lê Văn Nhành chồng Mẹ là cán bộ Công an ấp Phú Ninh, xã Phú Đức, huyện Châu Thành tỉnh Bên Tre, trên đường đi công tác bị máy bay trực thăng của giặc Mỹ bắn chết chiều ngày 6 tháng 9 năm 1966. Hài cốt Ông được chôn cất tại đất nhà lúc đó Mẹ và các anh, chị còn ở xã Vĩnh Hòa, Chợ Lách. Mẹ về đến nơi thì không còn thấy mặt Ông lần cuối, Mẹ quì bên mộ Ông nghẹn ngào không còn nước mắt để khóc. Từ đó Mẹ dẫn các anh, chị về quê ở ấp Hòa Phú, xã Vĩnh Hòa sinh sống tiếp tục tham gia cách mạng.
Năm 1970 – 1975, Mẹ hoạt động công khai trong lòng địch ở xã Vĩnh Hòa, lúc thì đi thu tài chính, khi thì mua lương thực, thực phẩm, thuốc tân dược đưa vào vùng giải phóng thông qua tổ chức dưới sự chỉ đạo của ông Tám Thố (Hùng Dũng) ông Chín Quế (Công Thành). Có lần Mẹ đi chợ Cái Mơn mua tân dược, thực phẩm bị chỉ điểm bắt vào Chi khu Đôn Nhơn tra trấn nhưng không khai thác được tin tức gì về tổ chức, chúng đã bắt giam Mẹ và chuyển về Khám Lá Bến Tre ở tù giam 17 tháng “anh Bảy Chiến kể lần đó tôi mới chín hay mười tuổi đi cùng đứa em với Mẹ nhưng Mẹ bảo ngồi dưới tắc ráng (xuồng máy vỏ lãi) giữ đồ giữ em chờ Mẹ. Chờ hoài tan , chợ cũng không có Mẹ, đò chạy tôi khóc quá trời, về nhà không có Mẹ khóc cả tuần mới hay Mẹ bị giam ở Khám Lá Bên Tre”.
Nghe anh Chiến kể lại, Mẹ rưng rưng nước mắt. Tôi hỏi lúc đó Mẹ sợ không? Mẹ nói “Nó đánh ghê lắm nhưng sao không biết đau, không biết sợ mà sợ cũng chết vì vậy không còn sợ nữa chỉ còn căm thù”,
Cuộc đời Mẹ thăng trầm là thế, thật đáng trân trọng. Hòa bình thống nhất đất nước, trong nổi mừng vui của nhà nhà, người người còn Mẹ thì đi tìm phần mộ của con để thoả lòng thương nhớ và cảm ơn chủ đất đã chăm sóc phần mộ của anh thời gian qua. Phần mộ anh Lê Văn Văn sau đó được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Chợ Lách. Phần mộ của ông Lê Văn Nhành chồng Mẹ nằm tại đất nhà. Mẹ tiếp tục tham gia công tác địa phương khi tuổi đã ngoài 50. Mẹ tham gia Ban Lương thực, Ban Thương nghiệp, Hợp tác xã mua bán, Ban Chấp hành Hội LHPN xã Vĩnh Hòa, việc nào Mẹ cũng hoàn thành tốt. Năm 1976, trong đợt tuyển nghĩa vụ quân sự đầu tiên Mẹ đã động viên con trai thứ bảy anh Lê Văn Chiến lên đường xây dựng quân đội. Hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về anh tiếp tục tham gia công tác địa phương.
Với những thành tích công lao của Mẹ, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng Mẹ nhiều bằng khen, Huân, Huy chương về kháng chiến.
Bốn mươi năm cuộc chiến đã đi qua, Mẹ đã sống trong tình yêu thương của gia đình làng xóm và chính sách thương binh liệt sĩ của Đảng, Nhà nước. Năm 2005, Mẹ được xét xây cất nhà tình nghĩa. Mẹ sống giản dị, hài hòa góp phần cùng chính quyền địa phương xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Rời nhà Mẹ vào buổi chiều gió xuân tươi mát, lòng tôi tràn ngập niềm vui với nụ cười phúc hậu của Mẹ. Mẹ dặn: “lúc nào con rãnh ghé thăm Mẹ”. Mẹ lúc nào cũng là người Mẹ đáng kính của chúng con, con kính chúc Mẹ sống lâu trăm tuổi.



