Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lê
*Bài viết được trích từ quyển "Mẹ Việt Nam anh hùng huyện Chợ Lách" — xuất bản vào năm 2001, trang 104.
Mẹ Nguyễn Thị Lê sinh năm 1916 tại Măng Thít - Vĩnh Long. Tháng 10.1950, Mẹ lập gia đình với ông Lê Văn Dưa ở ấp Hòa Lộc, xã Vĩnh Hòa. vì vậy, ở đây người dân thường gọi Mẹ là bà Tư Dưa. Ông Lê Văn Dựa là một thanh niên hiền lành và yêu nước. Ông tham gia công tác ở ấp,ở xã.
Mẹ xuất thân trong một gia đình nghèo. Hàng ngày, Mẹ phải đi làm mướn để sống và nuôi dưỡng cha mẹ mình. Ngày Mẹ Lê lập gia đình, cha mẹ ruột cũng phải về sống với con gái vì không còn ai phụng dưỡng.
Mẹ Lê có tất cả 03 người con trai. Các con Mẹ đều là những thanh niên yêu nước. Sau phong trào Đồng Khởi 1960, các anh đều tham gia kháng chiến.
Anh Lê Văn Thơ vào bộ đội Miền và đã hy sinh tại chiến trường miền Đông. Đến nay gia đình vẫn chưa tìm được phần mộ của anh.
Anh Lê Văn Danh cũng là bộ đội, chức vụ trung đội phó và đã anh dũng hy sinh trong trận đánh Bầu Bàng – Bình Dương. Mồ mã của anh cũng chưa tìm được.
Anh Lê Văn Đức công tác tại xã và cũng anh dũng hy sinh sau đó ít lâu. Trong một thời gian rất ngắn Mẹ phải chịu đựng và vượt qua những nỗi buồn đau nhất của đời người: cảnh mất con.
Có 03 đứa con thì lần lượt đã hy sinh, chồng chuyển vùng công tác xa. Niềm an ủi và hy vọng còn lại của Mẹ là nuôi dạy đứa cháu trai (con liệt sĩ Lê Văn Đức) trưởng thành và trông thấy ngày giải phóng quê hương.
Ngày ngày hai bà cháu sống trong căn nhà lá đơn sơ với bàn thờ đầy ắp những lư hương của các người thân trong gia đình.
Chiến tranh ngày càng ác liệt, giặc bình định lấn chiếm nhiều lần nhưng Mẹ vẫn một lòng kiên trung với lý tưởng mà chồng, con mình đã chọn. Nhà Mẹ cạnh bớt giặc. Đêm đêm chúng gom hết những gia đình có người thân tham gia kháng chiến vào ngủ trong đồn để uy hiếp tinh thần và gây khó khăn cho cách mạng. Với tay nghề là “cô đơ” từ thuở nhỏ, nay Mẹ trở thành “bà mụ vườn” không chỉ trong ấp mà cả các ấp lân cận. Vì vậy Me đã vượt qua sự kiểm soát của giặc để vừa giúp đỡ nhân dân vừa liên lạc với tổ chức và động viên nhân dân vượt qua thử thách hướng về cách mạng. Mẹ được nhân dân kính mến vì Mẹ sẵn sàng đến bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào khi có người trở dạ đang cần Mẹ.
Hàng ngày hai bà cháu làm bánh ít ngọt để bán. Bán bánh vừa để kiếm sống qua ngày vừa đi lại dễ dàng hoạt động. Và bất chấp cả dư luận, Mẹ vào tận bót giặc đánh bài tứ sắc, đánh ỏ với chúng để nắm thêm tình hình. Trong trận lấy gọn bót Vĩnh Chính không một tiếng súng có một phần công sức của Mẹ.
Tiếp nối truyền thống gia đình, năm 1973, anh Lê Văn Bé Hai con trai liệt sĩ Lê Văn Đức tham gia đội du kích xã Vĩnh Hòa. Từ đó căn nhà càng trống vắng. Đêm đêm Mẹ thắp nhang lên bàn thờ chồng, con và mong sao đứa cháu nội duy nhất của mình được bình yên trở về trong ngày chiến thắng.
Năm 1975, đến, ước mơ của Mẹ đã toại nguyện: cháu trai Mẹ trưởng thành, quê hương giải phóng, nước nhà được hòa bình thống nhất. Các nỗi buồn riêng hòa cùng niềm vui chung Mẹ vẫn công tác tại Trạm y tế xã Vĩnh Hòa tiếp tục là “bà mụ vườn” thân quen của nhân dân xã nhà. Mãi đến khi xã có được nữ hộ sinh đưa về Mẹ mới về nghỉ.
Ghi nhớ công lao của Mẹ, nhiều lần Đảng ủy-UBND xã Vĩnh Hòa đã đưa Mẹ về dự họp mặt tại huyện. Đây là dịp để Mẹ gặp lại bạn bè hoạt động trong những lúc khó khăn phức tạp. Các Mẹ cũng ôn lại những năm tháng khó khăn gian khổ và khí phách của những người phụ nữ bình thường: xa chồng, mất con, sống trong vùng giặc chiếm.
Ngày 17/12/1995, Mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Sau đó Mẹ được tặng một ngôi nhà tình nghĩa và được các đơn vị ở Thành phố Hồ Chí Minh nhận phụng dưỡng đến cuối đời.
Do cả đời vất vả, Mẹ bị tai biến, liệt nửa thân người và mất năm 2000. Hiện hai vợ chồng đứa cháu nội (con trai của liệt sĩ Lê Văn Đức) đang thờ cúng Mẹ. Thỉnh thoảng những đứa con được “Bà mụ vườn” sanh nở khi xưa, có người đang công tác ở huyện – xã, đến viếng thăm, thắp lên bàn thờ Mẹ những nén hương lòng thương nhớ.



