Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Muôn
Mẹ Nguyễn Thị Muôn sinh năm 1908, cùng em ruột là Nguyễn Văn Ngàn lớn lên trong sự hoạn dưỡng của cha mẹ nuôi ở ấp Hòa Thạnh xã Hòa Nghĩa. Mẹ trưởng thành và cùng với ông Trần Văn Diệp gá nghĩa trăm năm !
Ba, Mẹ sống thật hạnh phúc, có tất cả bảy người con: ba gái, bốn trai.
Cách mạng tháng 8/1945 diễn ra, người cha nuôi là hạt nhân lãnh đạo cướp chính quyền thành công ở quê hương Hòa Nghĩa. Khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng Thị trấn Chợ Lách, đáp lời kêu gọi cứu nước của Hồ Chủ Tịch, gia đình của Mẹ từng là nơi cơ quan UBKC.HC huyện, cơ quan lãnh đạo xã, bộ đội Sáu Bá, Mười Điện luân phiên đóng quân. Hàng trăm gia lúa do Mẹ và chị Hai, chị Ba xay, giã, cùng hàng đàn gà vịt được Ba, Mẹ phục vụ cho kháng chiến.
Từ năm 1947, thực dẫn Pháp liên tục cần quét đóng đồn, cơ quan cùng du kích, bộ đội...di tản xuống Tân Thiêng, qua xã An Phước, Mẹ cùng ba Diệp tìm cách qua mắt giặc để tiếp tế gạo thóc cho cán bộ, du kích.
Thưc hiên chủ trương của cấp trên, để chống giặc, cán bộ ta thực hiện phương châm "ly xã, bám về xã", quan hệ với ba Diệp, mẹ Muôn để bám về xã hoạt động. Ba, Mẹ đào hầm bí mật cạnh nhà, cách con rạch nhỏ trên liếp tre sầm uất của vườn ông Tám Thưởng. Nơi đó các anh con của Mẹ tác động mọi người là có mã Bà Thợ hiển linh thường hiện hình vào đứng bóng... nhằm hạn chế láng giềng lui tới. Các đồng chí Sáu Thuần (Bí thư xã), Năm Chánh (CT xã) cùng các đồng chí cán bộ huyện như Tư Lắm, Ba Phán, Hoàng Nam, Tư Cứ, Ba Son thường xuyên ở đây nhờ ba Diệp, mẹ Muôn che chở để móc nối cơ sở, xây dựng phong trào.
Qua hai đồng chí Năm Chánh, Sáu Thuần, chị Trần Thị Bê, Trần Thị Ba mở tiệm may ngay tại Cầu Sắt Hòa Nghĩa (hiện nay là chợ Hòa Nghĩa) để móc nối cơ sở địch vận và theo dõi tình hình địch.
Sau khi Hiệp định Genéve 1954 có hiệu lực, từ năm 1955 - 1956, sẵn căn hầm bí mật cũ, Mẹ tiếp tục nuôi đồng chí Ba Phán, các đồng chí Huyện ủy viên: Tư Cư, Ba Son và một số cán bộ khác được phân công ở lại Hòa Nghĩa phát động đồng bào đấu tranh chính trị với địch đòi thì hành Hiệp định Genéve.
Mẹ đồng ý gà chị Trần Thị Ba cho đồng chí Huỳnh Văn Bui là cán bộ điều lắng nằm vùng vào năm 1957. Tháng 01/1958 do bọn phản bội khai báo, anh Bui bị địch bắt đày khám Chí Hòa. Vì không đủ chứng có buộc tội anh, giữa năm 1960 địch thả anh về. Từ đó, anh thoát ly tham gia phong trào Đồng Khởi. Năm 1962, anh về miền Đông công tác ở Cục Quân y. Năm 1967 bị thương nặng anh được về địa phương công tác. Tháng 11/1970 anh hy sinh tại Trà Vinh trong lúc địch bình định.
Tháng 11/1958 anh Trần Văn Tư được tổ chức đưa đi quân dịch để nắm kỹ thuật sử dụng vũ khí mới của địch ở Sư đoàn 21 ngụy đóng ở Kon Tum. Anh tìm cách trở về, đi bộ đội cơ động chủ lực tỉnh Vĩnh Long (tháng 6/1961), và anh được tặng thưởng huân chương trong chiến đấu. Anh hy sinh ngày 24/4/1965 trên chiến trường Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, được đơn vị an táng tại nghĩa trang Ngãi Tứ (Tam Bình). Năm 1971 giặc bình định, chúng dùng xe ủi đất san bằng nghĩa trang, hài cốt anh thất lạc.
Năm 1960, cùng với anh rể, anh Trần Thanh Liêm, người con thứ sáu của Mẹ, đang học lớp đệ nhị tại trường trung học Nguyễn Thông (Vĩnh Long) thoát ly gia đình tham gia cách mạng. Khi về địa phương nằm vùng hoạt động, địch phát hiện truy đuổi, tên ủy viên cảnh sát dẫn lính dân vệ bao vây lục soát nhà, Mẹ mới biết con mình về hoạt động. Mẹ mừng vui nhẹ nhỏm sau khi bọn giặc không truy tìm được anh. Sau ngày hòa bình, đù giấy báo tử gửi về, nhưng Mẹ vẫn tin anh còn sống và hy vọng anh Sáu Liêm sẽ về với Mẹ.
Từ năm 1963, các anh Trần Thanh Minh, Trần Thanh Bạch (con thử bảy, thứ tám) được đồng chí Hoàng Minh (Bí thư xã) giác ngộ, cùng với đồng chí Lê Trung 2 hoạt động bí mật. Khi ta mở đợt phá ấp chiến lược (cuối năm 1963) diệt ác phá kiểm để giành quyền làm chủ ở nông thôn, tên trưởng ấpHòa Thạnh bị trừng trị, tên xã trưởng Hòa Nghĩa tình nghi bắt anh Bảy Minh tra trắn, và giải anh lên giam tại khám Chí Hòa. Không khai thác được gì, hơn một năm rưới giam cẩm bọn dịch phải thả anh. Khi trở về anh cùng anh Tám tham gia kháng chiến vào giữa năm 1965.
Huyện ủy triệu tập cán bộ các xã về Tân Thiềng chỉnh huấn, ngày 20/01/1967 do bọn do thám gián điệp chỉ điểm, pháo binh địch bắn cấp tập trúng tiềm, anh Tăm hy sinh! Nôi đau mất con cùng với nổi căm hờn khi quẻ Mẹ là vùng địch chiếm. Chúng dụ dỗ và khủng bố tinh thần Ba, Mẹ đủ điêu, nhưng không sao khuất phục được tinh thần yêu nước, vì cách mạng của ba Diệp, mẹ Muôn. Cứ mỗi lần qua mắt địch tìm cách đến vùng giải phóng để thăm con, rễ, cháu...Ba, Mẹ thường kết hợp thu quỹ đảm phụ giải phóng để giúp cách mạng..... Tại quê nhà, Ba, Mẹ luôn hết lòng nuôi dạy các cháu nội ngoại học hành đến nơi đến chốn.
Ngày 30/01/1975, hợp đồng với Trung đoàn Đồng Tháp 1 Quân khu về chiến trường Chợ Lách hoạt động, anh Trần Thanh Minh - Trường Công an xã, người con trai còn lại độc nhất của mẹ Muôn hy sinh tại quê hương! Mấy hôm sau tổ chức báo tin, Mẹ chết lịm tự bao giờ. Những giọt nước mắt khô cạn trào trong mắt Mẹ!
Cháu ngoại Huỳnh Thanh Sơn, được tin Cậu Bảy hy sinh, xin Mẹ cho phép tiếp tục thoát ly gia nhập vào bộ đội địa phương huyện chiếu đấu vì thù nhà, nợ nước. Hiện nay đồng chí Sơn được phong hàm Trung tá Chỉ huy phó, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Chợ Lách.
Ngày 01/5/1975 Miễn Nam được hoàn toàn giải phóng, Mẹ vẫn tin, vẫn hy vọng anh Sáu Liêm trở về với Mẹ. Bởi lẽ các Anh Tư, Anh Tám, Anh Ba, Anh Bảy, Ba cùng Mẹ đến nghĩa trang liệt sĩ thấp nên hương và biết được phần mô của các Anh ! Riêng Anh Sáu, từ ngày theo lệnh Đảng về miền Đông Mẹ vẫn chưa gặp mặt Anh, dù chỉ một lần. Vì thế Mẹ vẫn mong, vẫn đợi chờ, vẫn hy vọng anh trở về... mãi cho đến ngày Mẹ về cõi vĩnh hằng.
Mẹ Muôn, Ba Diệp luôn hết lòng nuôi dưỡng các cháu nội, ngoại nên người. Các cháu đã trưởng thành: hiện là sĩ quan quân đội, cán bộ công tác ở Tỉnh, huyện, góp phần bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mẹ qua đời ngày 19/02/1987, không còn thấy được vinh quang của đời Mẹ. "Ngày 24/4/1995, Mẹ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam anh hùng".
Bài viết này xin thay nén hương lòng kính dâng lên Mẹ!

