Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Năm - Người mẹ lấy nhiều đồn giặc
Mẹ Nguyễn Thị Năm sinh năm 1918 trong một gia đình nghèo ở ấp Mỹ Đức, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày. Mẹ chỉ có hai chị em gái. Cũng như nhiều bà mẹ khác, cuộc sống của mẹ từ nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn vất vả. Gia đình phải thuê ruộng, đong lúa cho địa chủ. Những năm trước năm 1954, mẹ chỉ lo làm ruộng để nuôi đàn con ngày một đông thêm. Sau Đồng khởi (1960), mẹ bắt đầu đi làm cách mạng. Những ngày đầu tiên đó mẹ cùng chị em phụ nữ trong xã sinh hoạt trong Hội phụ nữ.
Mẹ Nguyễn Thị Năm sinh năm 1918 trong một gia đình nghèo ở ấp Mỹ Đức, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày. Mẹ chỉ có hai chị em gái. Cũng như nhiều bà mẹ khác, cuộc sống của mẹ từ nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn vất vả. Gia đình phải thuê ruộng, đong lúa cho địa chủ. Những năm trước năm 1954, mẹ chỉ lo làm ruộng để nuôi đàn con ngày một đông thêm. Sau Đồng khởi (1960), mẹ bắt đầu đi làm cách mạng. Những ngày đầu tiên đó mẹ cùng chị em phụ nữ trong xã sinh hoạt trong Hội phụ nữ. Ba năm sau, năm 1964, mẹ được đứng vào hàng ngũ Đảng và được cử vào Ban Chấp hành Hội phụ nữ xã. Năm 1968, tổ chức đã chuyển mẹ qua tham gia công tác binh vận do đồng chí Hai Lược (Tiến) làm Trưởng ban, đồng chí Tám Cận làm Phó ban. Công việc của mẹ lúc này không còn đơn giản công khai như hồi mẹ lãnh đạo chị em đấu tranh trực diện với kẻ thù nữa. Thời điểm này ấp Mỹ Đức có đến ba đồn giặc (đồn Mỹ Đức, đồn Thầy Sọ, đồn Miễu).Năm 1969, đồn giặc ở Hương Mỹ được bố trí khá dày đặc, binh lực trong đồn được tăng cường hơn. Nhiệm vụ của mẹ được giao là phải quan hệ cho được với thành phần cầu an, hoặc các tên lính có nguồn gốc gia đình cách mạng bị giặc ép buộc đi lính để vận động họ về với cách mạng (làm nội tuyến) và trước khi vào vùng giải phóng phải hợp lực với quân giải phóng bên ngoài tiêu diệt binh lực bên trong, xóa đồn và ôm toàn bộ vũ khí về với cách mạng. Suy nghĩ và tìm nhiều cách, đầu năm 1969, mẹ đã hoàn thành việc lấy đồn Ấp Phủ do tên Haj Móm làm trưởng đồn. Thành công từ trận lấy đồn Ấp Phủ đã cho mẹ có thêm kinh nghiệm. Với những sáng tạo mới và sự móc nối nội tuyến chặt chẽ, hợp đồng giờ giấc chính xác, mẹ đã lập thêm những chiến công: lấy đồn Cầu Đập do tên Tư Sương làm Trưởng đồn; lấy gọn tháp canh dân vệ ở ấp Thị; lấy đồn Thanh Tây của chủ ấp Rôi. Thành tích của mẹ đã gây hoang mang dao động trong lòng địch, một thời gian dài chúng bớt hung hăng, giảm đi ra dân hạch sách bắt bớ, chủ yếu lo phòng ngự và cũng từ đó công việc của mẹ gặp khó khăn hơn khi tối đến các gia đình cách mạng bị bọn lính điều về đồn ngủ để hạn chế việc san bằng đồn của quân ta. Chồng của mẹ - ông Trần Văn Mười hơn mẹ ba tuổi cũng được kết nạp vào Đảng năm 1964, làm công tác vận động quần chúng cho đến ngày giải phóng. Mẹ có 7 người con trai thì có 6 người tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các anh lần lượt ra đi tạo nhiều chiến công cho lực lượng vũ trang của tỉnh, tô thắm thêm cho màu cờ cách mạng, bốn anh đã hy sinh anh dũng, để lại cho cha mẹ nỗi đau không nói được với ai, mà chỉ âm thầm chịu đựng. Anh hai Trần Văn Bé sinh năm 1946. Năm 18 tuổi anh tham gia vào lực lượng du kích xã sau đó chuyển lên đơn vị địa phương quân huyện. Trong lần đánh vào chùa Bà (Đa Phước Hội) nay là thị trấn Mỏ Cày với lính dân vệ, anh đã hy sinh lúc tròn 20 tuổi (năm 1966). Bà con và đồng đội đã đưa anh về chôn cất ở Nghĩa trang An Thới. Anh ba Trần Văn Tấn, sinh năm 1948, tham gia du kích xã năm 1965. Năm 1967 anh được cử đi học lớp huấn luyện chiến sĩ đặc công. Đêm 21-1-1968 âm lịch, trong trận đánh vào đồn Cây Sộp (Hương Mỹ) anh đã hy sinh bên hàng rào thứ nhất của đồn - tên Ba Thanh trưởng đồn đã chặt đầu, mổ bụng, lấy gan và sau đó thủ tiêu anh mất xác. Năm 1967, mẹ đưa anh tư Trần Văn Lực vào lực lượng công an vũ trang. Và chỉ bốn năm sau, trong một chuyến đi công tác qua lộ ở xã Sơn Đông (thị xã Bến Tre) anh bị địch phát hiện, không còn cách nào khác, anh đảng viên trẻ 21 tuổi đã chiến đấu và anh dũng hy sinh. Người con trai thứ năm của mẹ là Trần Văn Lượng vào đơn vị quân y của Công an tỉnh từ năm 1973 - và hơn một năm sau, ngày 21-7-1974 anh hy sinh ở xã Phú An Hòa (Châu Thành). Chính lần trên đường đi mở cửa mả cho anh Lượng về, mẹ bị địch chặn bắt ở lộ Điệp. Sau khi nhốt mẹ ở chi khu Trúc Giang 10 ngày, không khai thác ở mẹ được gì, chúng chuyển mẹ vô Ty thẩm vấn sau đó đưa về khámLá. Chúng đã làm cho mẹ mang thương tật ở cột sống và khớp gối. Ngày tôi xuống thăm viếng mẹ, mẹ không ngồi lâu được, mẹ đi phải chống gậy, sức khỏe có phần đáng lo. Mẹ đã đóng góp công sức vì các con của mẹ như thế nhưng chúng tôi được biết từ sau ngày giải phóng cuộc sống của gia đình mẹ vẫn đạm bạc, đơn sơ.



