Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Tám
Mẹ Nguyễn Thị Tám sinh năm 1912, quê ở Định Thủy huyện Mỏ Cày. Những năm khó khăn Mẹ theo gia đình chạy giặc về ấp Sơn Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách. Chồng Mẹ là cháu nội của ông Phạm Văn Long quê ở xã Tần Thới, quận Gò Công, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang). Ông Long là một trong những vị tướng thân cận dưới quyền của ông Trương Công Định. Sau khi lực lượng nghĩa binh của Trương Công Định bị tan rã, ông Long hy sinh trong trận chiến bảo vệ thành. Sau đó bọn lính Tây tiếp tục truy lùng những gia đình, người thân của nghĩa quân để sát hại.
Cha chồng của Mẹ là ông Phạm Văn Quyền nhận thấy rằng ở Gò Công không sống nỗi nên cả gia đình bỏ xứ trốn lên ấp Sơn Châu, xã Sơn Định lánh nạn. Tại đây, hai gia đình nghèo có cùng cảnh ngộ gặp nhau, mang trong mình dòng máu của những nghĩa sĩ yêu nước và căm thù giặc ngoại xâm, chồng Mẹ là ông Phạm Văn Tần sinh năm 1909 sớm giác ngộ cách mạng và Ông đã tham gia phong trào Việt Minh những năm 1930. Và chính gia đình của Mẹ là nơi hoạt động thường xuyên của Huyện ủy Chợ Lách. Thấy gia đình của Mẹ có nhiều đóng góp cho cách mạng nên tổ chức phân công chồng Mẹ làm cán bộ Kinh tài xã, chuyên lo vận động quyên góp, tiếp tế cho cách mạng.
Năm 1931, lực lượng của ta bắt được một tên lính Tây đem về tạm giữ tại nhà Mẹ, không ai biết hắn tên gì để tiện việc khai thác. Một hôm, trong nhà Mẹ có trái mít chín, Mẹ chẻ mít cho anh em canh giữ ăn và tiện thể cho tên lính Tây một miếng, nhưng tên lính Tây cương quyết không ăn. Lúc đó, tình cờ có một cán bộ ta biết chút ít tiếng Tây nên hỏi tại sao Ông không ăn mít?. Tên lính Tây trả lời là hắn nghe nói chẻ mít là giết hắn và ăn mít là ăn hắn nên Mẹ mời nó ăn mít nó không dám ăn vì mít là tên của nó nên nó không thể ăn nó được. Mọi người đều cười ngất và chính vì lòng nhân đạo của Mẹ mà ta biết được tên tù binh tên là Mits.
Sau này cơ sở của ta bị lộ, chồng Mẹ bị lính bắt tra tấn rất dã man nhưng vẫn không khai bảo, có lần bọn lính Tây định đem chồng Mẹ xuống tàu đưa ra sông Cổ Chiên để bắn (lúc đó gọi là "đổ cồn"), nhưng sau đó bọn lính đổi ý để chồng Mẹ lại để theo dõi tổ chức của ta.
Sau năm 1945, chồng Mẹ thoát ly, nhiều lần về bám điểm gầy dựng cơ sở. Ban ngày cán bộ ta xuống hầm bí mật tránh né, không biết có bị chỉ điểm hay không mà hầm của chồng Mẹ bị lật, cách đó không xa khoảng vài chục mét là hầm của ông La Tấn Xẹt (bí danh Bảy Xẹt). Bọn địch đánh chồng Mẹ rất dã man và bảo rằng chỉ hầm thì sẽ được tha nhưng chồng Mẹ rất gan dạ không chỉ hầm.
Tra khảo chồng Mẹ không được, bọn chúng áp giải về bót, khi đi ngang nhà bà Má Năm, nơi đây cũng có hầm bí mật, anh em bà con sợ chồng Mẹ chịu không nổi sẽ khai báo, nhưng Ông thà chịu một mình chớ không khai báo. Bọn lính ở Chi khu Chợ Lách không khai thác gì được, chúng lại chuyển chồng Mẹ về giam ở Khám Lớn Sài Gòn, tiếp tục điều tra khai thác. Lúc này, một mình Mẹ phải vừa lo cho 7 đứa con ở nhà và vừa phải lo thuốc men cho chồng đang bị giặc giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn. Lúc đó, mỗi lần đi thăm nuôi chồng là rất khó khăn đối với một người bình thường huống chi với Mẹ. Mỗi lần đi thăm nuôi chồng về tưởng chừng như Mẹ sẽ không đứng vững nổi, vì trên vai hai gánh nặng và những nỗi lo chồng chất. Nhưng nhờ bà con chòm xóm động viên nên Mẹ đã vượt lên làm tròn nhiệm vụ của người mẹ, người vợ.
Năm 1955, chồng Mẹ ra tù trở về địa phương tiếp tục hoạt động cách mạng, đến năm 1960 trong lúc đang vận động bà con ủng hộ cách mạng thì bị lính bắn chết. Biết cha mình bị lính bắn chết, hai người con của Mẹ là: Anh Phạm Văn Hài và Phạm Văn Năm (Hoàng Hưng) cùng xung phong lên đường tham gia cách mạng để trả thù cha. Và sau đó người con gái của Mẹ là Phạm Thị Sáu cũng tham gia cách mạng.
Anh Phạm Văn Hài tham gia cách mạng được phân công về làm Công an xã Vĩnh Bình, sau đó giữ chức vụ Trưởng Công an xã Vĩnh Bình, bị lính Chi khu Chợ Lách bắn hy sinh vào tháng 02 năm 1975 tại ấp Phú Đa, xã Vĩnh Bình trong khi đang làm nhiệm vụ.
Anh Phạm Văn Năm (Hoàng Hưng) tham gia bộ đội huyện, sau này giữ chức vụ Đại đội trưởng.
Cuộc đời của Mẹ hết lo cho chồng rồi lại lo cho con, nhưng nỗi lo đó chỉ thầm lặng và không bao giờ dám than thở cùng ai, vì lúc nào bọn lính cũng rình rập nhà Mẹ. Ấy vậy mà cũng không ngăn được lòng Mẹ hướng về cách mạng.
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, có lúc cách mạng ta gặp khó khăn, đồng chí Ba Sơn (Bí thư xã Sơn Định) về vận động bà con trong xã ủng hộ cách mạng, Mẹ vét hết được trăm gia lúa đem bán cho cách mạng mượn và sau này Mẹ hiến luôn.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Mẹ được nhà nước tặng bằng khen "Mẹ Chiến Sĩ, có công nuôi dấu cách mạng".
Ngày 16 tháng 12 năm 2014 Mẹ đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý "Bà Mẹ Việt Nam anh hùng".



