Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THẬP

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THẬP VỚI PHONG TRÀO “BA ĐẢM ĐANG”

Vĩnh Long23/04/2026Nguyễn Ngọc Thạch (phường Sơn Đông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đóng góp của những người mẹ Việt Nam rất thầm lặng nhưng có lúc các mẹ chính là những chiến sĩ luôn xung kích trên mọi mặt trận như tham gia đấu tranh chính trị, binh vận hay trực tiếp cầm súng tham gia chiến đấu cùng chồng con trong lực lượng vũ trang. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập là một tấm gương tiêu biểu của những người mẹ Việt Nam. Là vợ của liệt sĩ đã hy sinh trong khởi nghĩa Nam Kỳ, mẹ của liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp nhưng mẹ đã động viên người con trai thứ hai vào Nam chiến đấu và anh cũng đã hy sinh.

Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Tốt, sinh năm 1908 trong một gia đình nghèo, chất phát và giàu truyền thống yêu nước ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Sinh ra trong hoàn cảnh “nước mất, nhà tan”, các phong trào yêu nước đều không giành được thắng lợi hoàn toàn và gia đình bị áp bức, bóc lột nặng nề, mặc dù là thân “nữ nhi” nhưng đã nung nấu trong bà một ý chí đấu tranh mãnh liệt. Khi vừa tròn 12 tuổi thì thân mẫu qua đời, mẹ phải đảm đương việc nhà và chăm sóc các em nhỏ. Dù hoàn cảnh khó khăn nhưng mẹ vẫn dành thời gian đọc sách viết về cuộc đời hoạt động của các sĩ phu yêu nước. Vấn đề “nam nữ bình quyền” đặt ra trong cách mạng đã có sức hấp dẫn rất lớn đối mẹ.

Năm 1928, mẹ tham gia Nông hội đỏ tại địa phương, với nhiệm vụ thông tin liên lạc. Ba năm sau, mẹ thoát ly gia đình, lên Sài Gòn hoạt động cách mạng, thâm nhập vào cuộc sống của thợ thuyền, công nhân và những người lao động nghèo để tuyên truyền, giác ngộ đồng thời xây dựng cơ sở cách mạng.

Năm 1935, mẹ được bầu làm Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó không lâu mẹ bị thực dân Pháp bắt và giam tại Khám Lớn – Sài Gòn. Mặc dù bị tù đày, tra tấn rất dã man những ý chí cách mạng của người chiến sĩ cộng sản trong mẹ vẫn không hề thay đổi. Một năm sau đó, khi được trả tự do mẹ trở về quê hương tiếp tục tuyên truyền lý tưởng cách mạng, giáo dục xóa bỏ hủ tục mê tín dị đoan, lề thói lạc hậu ở nông thôn và xây dựng cơ sở cách mạng ở khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Năm 1936, mẹ tham gia phong trào Đông Dương đại hội và được phân công trong Ủy ban sưu tập dân nguyện đấu tranh đòi tăng công gặt với địa chủ. Sau nhiều lần đấu tranh, biểu tình mẹ địch bắt và khép vào tội phá rối chính trị. Mẹ bị xử 6 tháng tù, thời gian ở trong tù mẹ vận động chị em trong khám đấu tranh “phản đối vô cớ bắt nhốt người” thắng lợi. Tiếp đó, mẹ vận động các tất cả tù nhân trong khám tham gia bãi thực.

Năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, dù đã gần đến ngày sinh nở, mẹ vẫn thắt khăn nịt bụng, chỉ huy dân quân, đồng bào trương cờ, biểu ngữ, xông vào cướp đồn địch. Cuộc khởi nghĩa thất bại, chồng mẹ là ông Lê Văn Giác, sinh năm 1902, một chiến sĩ cộng sản bị địch bắt giam ngoài Côn Đảo từ năm 1930, lại bị địch bắt và xử tử hình. Khó khăn chồng chất khó khăn, chồng mất, các con còn nhỏ (con trai đầu 11 tuổi, con gái thứ hai lên 2 và con út mới 8 ngày tuổi), mẹ đành gửi các con nhờ người nuôi, tiếp tục cùng các đồng chí còn lại hoạt động bí mật, gây dựng lại cơ sở cách mạng.

Năm 1945, sau bao nhiêu năm xa cách, mẹ con mới đoàn tụ bên nhau thế nhưng nỗi đau lại ập tới, tháng 5/1954, người con trai cả là anh Lương Văn Thuận, sinh năm 1925, một xã đội trưởng liên xã Long Hưng – Long Hòa đã anh dũng hy sinh trong một trận càn của giặc. Người con trai thứ hai là anh Lê Văn Quang, sinh năm 1940, cũng tiếp nối sự nghiệp cách mạng của gia đình nên tham gia chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ và anh dũng ngã xuống trên quê hương giàu truyền thống cách mạng như người cha và anh trai của mình.

Cả cuộc đời cống hiến cho cuộc đấu tranh cách mạng, hiến dâng cho Tổ quốc chồng và hai con trai, trong Hồi ký “Qua những chặng đường” mẹ đã viết những dòng chữ vô cùng cảm động: “Trong chiến đấu một mất, một còn với kẻ thù tàn bạo và hung hãn nhất thế giới là đế quốc Mỹ, toàn dân ta không có gia đình nào không ít nhiều gánh chịu mất mát hy sinh, để giữ lấy sống còn, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Gia đình tôi cũng trong hoàn cảnh ấy”

Có thể thấy, sự hy sinh cho gia đình và Tổ quốc của Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập đã khắc họa nhân cách sống cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Với những công lao đóng góp vào công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, ngày 17/12/1994, mẹ Nguyễn Thị Thập được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Cuộc đời và sự nghiệp của Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập luôn là tấm gương tiêu biểu về phẩm chất “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” của phụ nữ Việt Nam. Phẩm chất và những đóng góp to lớn của Mẹ là di sản và luôn được các lớp thế hệ phụ nữ học tập, noi theo.

Trong suốt những năm tháng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập được giao trọng trách Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa II và III (1956-1974). Trên cương vị là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập cùng với tập thể lãnh đạo đề ra những chủ trương chỉ đạo sáng tạo, phù hợp với tình hình của đất nước, tổ chức nhiều hoạt động, phong trào thi đua sôi nổi của phụ nữ thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, có sức lan tỏa, lôi cuốn toàn thể phụ nữ từ thành thị đến nông thôn hăng hái tham gia. Trong đó, phong trào “Ba đảm đang” (tháng 3/1965) được đánh giá là cao trào cách mạng của phụ nữ, một mốc son trong lịch sử tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Việt Nam cũng như phong trào phụ nữ Việt Nam.

Phong trào “Ba đảm đang” gồm ba nội dung chính: Đảm nhiệm sản xuất thay thế chồng con đi chiến đấu; Đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm chiến đấu; Đảm nhiệm sẵn sàng phục vụ chiến đấu khi cần. Phong trào “Ba đảm đang” được phát triển sâu rộng và vững chắc, nhanh chóng lôi cuốn hàng triệu phụ nữ ở miền Bắc tham gia thi đua với phụ nữ miền Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trên khắp các mặt trận: công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu khoa học, y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật… Trong việc đảm nhiệm gia đình, nuôi dạy con cái, trong luyện tập quân sự, phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, đâu đâu cũng thấy xuất hiện những đơn vị, cá nhân phụ nữ ưu tú lập được thành tích vẻ vang.

Nhằm đưa phong trào “Ba đảm đang” lên một tầm cao mới, ngày 19/2/1966, Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập cùng Ban thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Việt Nam ra chỉ thị về việc tổ chức Đại hội “Ba đảm đang” và bình bầu những người xuất sắc trong phong trào nhằm biểu dương thành tích, sơ kết và rút kinh nghiệm cho việc chỉ đạo phong trào.

Để khích lệ phong trào của phụ nữ hai miền Nam – Bắc hoạt động ngày càng sôi nổi, ngày 8/3/1966, Chủ tịch Nguyễn Thị Thập thay mặt Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động chị em hai miền thi đua thực hiện “Ba đảm đang” với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng miền Nam cùng giao ước thi đua thực hiện nhiệm vụ do yêu cầu của cách mạng đề ra cho Hội trong tình hình mới. Cuộc thi đua yêu nước của phụ nữ hai miền Nam – Bắc đã được hưởng ứng sâu rộng và bước đầu đã giành được thắng lợi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn