MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THIỆU

cha tôi là ông Nguyễn Văn Sanh tham gia kháng chiến, ông bị địch bắt đày ra Côn Đảo, bị tra tấn, khổ sai, bệnh nặng mới được cho về, khoảng vài tháng sau thì cha tôi mất. Mẹ con tôi đau buồn lắm! Nhất là mẹ tôi, mẹ chết lên chết xuống!...
Đó là lời kể của chị Nguyễn Thị Kim Cúc, con gái út của Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thiệu, ngụ ở phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chị Cúc cho biết là ba người chú (em ruột của cha chị) đều tham gia Việt minh chống Pháp.
Cha mẹ chị đã được vinh dự nhận Huy chương Giải phóng hạng Ba do Chủ tịch nước Trường Chinh ký (ngày 16-6-1982).
"Sau khi cha tôi mất, mẹ tôi một mình gồng gánh nuôi bảy người con trong thời đất nước chiến tranh, loạn lạc, phải nói là rất gian khổ. Nhiều lúc mẹ phải nhịn ăn, để dành lo cho các con đang sức ăn, sức lớn. Hàng ngày mẹ tôi đáp xe lam, xe ngựa xuống chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn để mua gạo, thực phẩm đóng hộp, và hoa màu về chợ Lái Thiêu bán, kiếm lời nuôi con.
Lớn lên tôi mơi được biết là phía dưới những gió hàng lương thực đó có giấu thuốc men, dây điện đánh mìn...
Khi tôi lơn lớn, mẹ biểu tôi bỏ vô cặp sách để giao cho ai đó, người này đã được dặn trước và đón tôi để lấy hàng bí mật. Lúc đó tôi được mẹ dặn dò kỹ lắm, tôi lớn cũng hiếu hiểu rồi. Sau khi cha mất, anh chị em tôi ai cũng hận bọn đế quốc. Bà nội tôi cũng vậy, mẹ ở với mẹ và anh chị em chúng tôi, được mẹ tôi phụng dưỡng chu đáo. Chúng tôi rất kính yêu bà, bà nội thường nói với các cháu rằng: Trên đời mẹ chưa thấy có con dâu nào hiếu thảo, hy sinh, chịu thương chịu khó như mẹ tôi. Đến năm 1974 thì bà nội tôi mất.
Một tay mẹ tôi quán xuyến trong ngoài, tôi là con gái út nên thường được ngủ chung và tâm sự với mẹ.
Qua những lời mẹ dặn dò, dạy bảo, từ chuyện gia đình đến trường đời, những cách qua mặt đối phó với địch, những kinh nghiệm của mẹ tôi đã giúp tôi rất nhiều. Bên trong con người nhỏ bé của mẹ tôi là một tấm lòng cao cả, nghị lực phi thường, hy sinh vì chồng con, vì gia đình nội ngoại hai bên. Cả mẹ con hàng xóm hầu như ai cũng mến và thương mẹ tôi. Mẹ nói là chỉ mong buôn bán được, mong mọi việc suôn sẻ, để có tiền nuôi con và giúp đỡ phần nào cho cán bộ, chiến sĩ, những người đang hy sinh quên mình để giành lại tự do độc lập cho nước nhà, trong đó có gia đình mình, vậy thì mẹ con mình phải cố gắng, không tiếc thứ gì.
Quả thật mẹ tôi đã không tiếc thứ gì, kể cả tính mạng mình. Nếu mẹ tôi sợ, mẹ đã không nhận giấu thuốc men, vũ khí, tiếp tế lương thực cho cách mạng. Nếu mẹ tôi sợ, mẹ đã không biểu các anh chị tôi vô bưng chiến đấu để trả thù cho cha. Mẹ tôi không sợ, không tiếc, nhưng mẹ đau lắm! Đau lắm! Khi chồng bị đánh đập, tù đày, đến nối đau bệnh rồi chết. Mẹ tôi còn đau hơn khi anh Năm tôi là Nguyễn Văn Thọ - chiến sĩ biệt động thành hy sinh năm Mậu Thân, tiếp theo đó là cái chết tức tưởi đau đớn của chị Sáu tôi - chị Nguyễn Thị Hồng Nga. Chị tôi cùng năm chị du kích trong xã bị chết chung hâm, khi xe tăng địch cán qua..."
Chị Út Cúc kể đến đây thì bật khóc. Tôi cúi đầu, xúc động ghi chép, cây bút cũng run rấy. Chị Cúc gạt nước mắt, kể tiếp:"Chị Nga tôi chết mà chiếc nhẫn mẹ cho vẫn còn trên ngón trỏ, đôi bông mẹ cho còn đeo trên tay...
Tội lắm chú ơi! Ai nhìn thấy cũng phải khóc! Mẹ tôi lại chết lên chết xuống!...
Lúc đó có người nói với mẹ tôi là tháo chiếc nhẫn với đôi bông tai đó ra, của con gái bà, phải giữ làm kỷ niệm.
Mẹ biểu tôi tháo nhẫn và đôi bông từ xác chị Nga ra, rồi đưa cho mấy ông cán bộ đứng gân đó, nói: Của con gái tôi, nó hy sinh vì nước, thì những vật này của nó cũng xin nhờ cán bộ bán để ủng hộ kháng chiến."
Tôi càng nghe càng kính phục.
Thật đúng là Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, lúc đau khổ nhất mẹ vẫn đầy nghị lực và sáng suốt.
Chị Út kể tiếp: "Chiếc nhẫn và đôi bông của chị tôi giờ là kỷ vật chiến tranh, được lưu trữ trong Nhà Bảo tàng lịch sử tỉnh Bình Dương. Giải phóng năm 1975 thống nhất đất nước, mẹ tôi mừng lắm, mẹ nói: Vậy là những hy sinh của cha các con, của anh và chị con không uống. Mẹ nói vậy nhưng tôi biết trong lòng mẹ xót xa.
Càng đau đớn xót xa hơn khi đất nước giành được tự do độc lập rồi, tưởng an lành rồi, thì năm 1977, anh Bảy tôi là Nguyễn Quang Trung làm nghĩa vụ quốc tế diệt giặc Pôn Pốt, anh đã hy sinh ở biên giới Tây Nam.
Lần này mẹ tôi gần như quy hắn, mẹ ngơ ngấn, bịnh tới bịnh lui, phần mẹ tôi đã già, phần mẹ rất thương anh Bảy, mẹ đã nhắm hỏi vợ cho anh, vậy mà....
Tôi ngước nhìn ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Thiệu, thành kính thắp hương. Mẹ ơi! Gần 80 năm trên đời, mẹ đã hy sinh người chồng thân yêu, hy sinh ba đứa con mà mình rứt ruột sinh ra. Không có nỗi đau nào bằng mất chồng, mất con. Vậy mà mẹ vẫn nén đau thương, âm thầm phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh luôn cả thân mình. Phải có một nghị lực phi thường và cực kỳ can đảm mới làm được như thế, mẹ ơi!



