Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1)
Câu chuyện kể về mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ với sự hy sinh to lớn, mẹ có tổng cộng 12 người con trong đó có 9 người con trai 1 người con rể và 2 cháu ngoại đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc
Trong những năm tháng lửa đạn ngút trời của dân tộc, khi bom Mỹ rền vang trên bầu trời Quảng Nam và súng Pháp còn vang vọng trong ruộng đồng cát trắng, có một người mẹ đã biến ngôi nhà tranh vách đất thành pháo đài thầm lặng, biến nỗi đau mất con thành sức mạnh của cả dân tộc. Đó là Mẹ Nguyễn Thị Thứ, Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng – người đã tiễn 9 người con trai, một con rể và hai cháu ngoại ra chiến trường, để lại trên bàn thờ 12 ngọn đèn dầu soi sáng con đường cách mạng.
Mẹ sinh năm 1904 tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam – mảnh đất nắng gió cay xè, nơi cát trắng phủ đầy ruộng đồng và sóng biển vỗ mãi không nguôi. Năm 18 tuổi, mẹ về làm dâu nhà ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền lành chất phác. Cuộc sống cơ cực, mẹ mang thai 12 lần, sinh 11 trai một gái giữa những mùa hạn hán và lũ lụt. Con gái đầu lòng Lê Thị Trị lớn lên trong vòng tay mẹ, còn 11 cậu con trai lần lượt lớn lên với tiếng ru của mẹ hòa quyện cùng tiếng gió đồng quê.
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, ngọn lửa cách mạng bùng lên. Ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Mẹ không khóc, chỉ nhẹ nhàng buộc dải khăn đỏ lên vai từng đứa con, giọng trầm ấm: “Còn nước mình thì còn nhà mình. Đi đi con, mẹ ở nhà lo cho anh em”. Ngôi nhà lá đơn sơ trở thành “hậu phương lớn”. Mẹ và con gái Trị đào năm căn hầm bí mật dưới vườn, ngụy trang bằng bụi tre, gốc mít và đàn bò gặm cỏ. Hàng trăm cán bộ Khu 5, bộ đội, du kích đã được mẹ che chở. Đêm đêm, mẹ thắp ngọn đèn dầu bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn. Khi giặc càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò, xóa dấu vết miệng hầm. Tay mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm muối rang, gửi ra chiến trường. Tiếng ru của mẹ hòa lẫn tiếng bom, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Rồi nỗi đau ập đến như bão tố. Năm 1948, chỉ trong vài tháng, mẹ nhận ba giấy báo tử liên tiếp. Con thứ ba Lê Tự Xuyến – giao liên – hy sinh ngày 18-6 khi bị Pháp bắn ngay đầu làng. Chưa đầy mười ngày sau, con thứ tư Lê Tự Hàn hy sinh khi tải thương. Con thứ năm Lê Tự Hãn ngã xuống trên mặt trận Điện Bàn. Mẹ ôm ba tấm khăn tang, nước mắt lăn dài nhưng không gục ngã. Mẹ viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Năm 1954, con thứ sáu Lê Tự Lem vừa tròn 20 tuổi cũng ra đi mãi mãi trong trận đánh huyện nhà.
Chiến tranh chống Mỹ càng khốc liệt hơn. Mẹ tiếp tục tiễn con. Con thứ bảy Lê Tự Nự hy sinh năm 1966 trên mặt trận Khu 5. Năm 1972, hai con trai Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh ngã xuống trong mùa hè đỏ lửa. Năm 1974, con trai Lê Tự Thịnh – đại đội trưởng – hy sinh khi chỉ huy đánh đồn giặc ở Duy Xuyên. Đỉnh điểm là ngày 30-4-1975, khi Sài Gòn sắp giải phóng, con trai cả Lê Tự Chuyển – biệt động thành – hy sinh trên cầu Rạch Chiếc, chỉ cách giờ thống nhất đất nước vài tiếng đồng hồ. Con rể Ngô Tường bị tra tấn đến chết năm 1956. Hai cháu ngoại Ngô Thị Điểu và Ngô Thị Cúc cũng lần lượt hy sinh năm 1970 và 1973 khi còn rất trẻ.
Mười hai lần mẹ nhận tin dữ. Mỗi lần, trái tim mẹ như bị xé toạc. Nhưng mẹ vẫn đứng thẳng, vẫn nuôi quân, vẫn thắp đèn soi đường cho cách mạng. Ngôi nhà lá trở thành đài liệt sĩ thu nhỏ. Chín tấm bằng Tổ quốc ghi công treo kín vách. Mỗi giỗ chạp, mẹ xếp chín bát cơm, chín đôi đũa, gọi tên từng con: “Xuyến ơi, Hàn ơi, Lem ơi… về với mẹ ăn cơm”. Năm 80 tuổi, đôi mắt mẹ mù lòa vì tuổi già và nước mắt. Mẹ sống cùng con gái Trị ở quê, sau chuyển ra Đà Nẵng với con út Lê Tự Tân. Dù mù, mẹ vẫn mơ thấy các con về, tỉnh giấc giữa đêm, lần mò thắp hương.
Năm 1994, Chủ tịch nước phong tặng mẹ danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh từng cầm tay mẹ: “Mẹ là Mẹ Việt Nam”. Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, Tam Kỳ lấy gương mặt mẹ làm nguyên mẫu – khối đá khổng lồ cao 18,6 mét, rộng 15 hecta, kỷ lục ASEAN. Mẹ trở thành biểu tượng bất diệt. Mẹ ra đi ngày 10-12-2010, thọ 106 tuổi, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn. Hàng ngàn người tiễn đưa mẹ, từ cán bộ đến học sinh, chiến sĩ. Di sản của mẹ không phải vàng bạc, mà là ngọn lửa yêu nước cháy mãi trong tim thế hệ sau. Mỗi khi gió Quảng Nam thổi qua xóm Rừng, người ta vẫn nghe tiếng ru của mẹ: “Con ơi, vì độc lập tự do, mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả”.
Đó là câu chuyện thời hoa lửa của Mẹ Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã biến đau thương thành bất tử, biến nước mắt thành sức mạnh dân tộc. Hôm nay, khi đất nước hòa bình, chúng ta vẫn cúi đầu tri ân mẹ, vì mẹ đã dạy rằng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.



