Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1)
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh nhiều anh hùng kiệt xuất. Trong số đó, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ là một tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước, ý chí đấu tranh và sự hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Mẹ không trực tiếp cầm súng ra chiến trường, nhưng cuộc đời mẹ lại là một bài ca ra trận thầm lặng mà kiên cường, nơi nỗi đau được nén lại thành sức mạnh, góp phần làm nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 và mất năm 2010, thọ 106 tuổi. Mẹ sinh ra và lớn lên tại xóm Điện Thắng, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – một vùng đất giàu truyền thống cách mạng nhưng cũng là nơi hứng chịu nhiều bom đạn khốc liệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ mẹ Thứ đã quen với cuộc sống lam lũ, tần tảo gắn liền với ruộng đồng. Chính hoàn cảnh gia đình vất vả cùng truyền thống kiên cường của quê hương Quảng Nam "trung dũng kiên cường" đã sớm hun đúc trong mẹ tấm lòng nồng nàn yêu nước và lý tưởng cách mạng sâu sắc.
Bước vào giai đoạn kháng chiến, theo tiếng gọi của Tổ quốc, mẹ lần lượt động viên chồng, các con và cháu lên đường nhập ngũ. Suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ, ngôi nhà của mẹ không chỉ là nơi tăng gia sản xuất mà còn là một cơ sở nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng bí mật. Ngay trong vườn nhà, mẹ đã cùng các con đào tới 5 hầm bí mật. Biết bao lần giặc càn quét, mẹ bình tĩnh ngụy trang, che mắt quân thù để bảo vệ an toàn cho các chiến sĩ du kích, bộ đội cụ Hồ.
Thế nhưng, cái giá của độc lập vô cùng đắt đỏ. Lần lượt, những tin dữ từ chiến trường gửi về xé nát tâm can người mẹ. Mẹ Thứ có 9 người con trai, 1 người con rể và 2 người cháu ngoại đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau chồng chất nỗi đau khi có những năm mẹ nhận đến hai, ba giấy báo tử. Đặc biệt, người con đầu lòng của mẹ hy sinh từ thời kháng chiến chống Pháp, và người con cuối cùng ngã xuống ngay vào thời khắc chỉ cách ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) vỏn vẹn vài mươi ngày. Trải qua bao hiểm nguy, gian khổ, đối mặt với sự khủng bố tàn bạo của kẻ thù khi chúng nghi ngờ nhà mẹ là cơ sở cách mạng, mẹ Nguyễn Thị Thứ vẫn giữ vững tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường, không một lời khai báo, một lòng một dạ sắt son với Đảng, với cách mạng.
Sự hy sinh của mẹ là vô giá. Nỗi đau nén vào lòng, mẹ biến nó thành hành động, tiếp tục bám trụ quê hương, nuôi giấu cán bộ cho đến ngày non sông liền một dải. Sự hy sinh dũng cảm và hoàn cảnh bi tráng của mẹ chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Mẹ Nguyễn Thị Thứ hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Đó là một lòng yêu nước sâu sắc, một tinh thần bất khuất, kiên trung trước họng súng quân thù. Dù chịu đựng nỗi đau mất mát quá lớn – điều tưởng chừng có thể quật ngã bất kỳ ai – mẹ vẫn thể hiện ý chí vượt khó phi thường, đức hy sinh và tinh thần trách nhiệm cao cả với vận mệnh quốc gia. Tấm lòng vì nhân dân, vì Tổ quốc của mẹ bao la như biển động, vượt lên trên mọi lợi ích cá nhân, gia đình để hiến dâng tất cả những gì quý giá nhất cho nền độc lập dân tộc.
Với những cống hiến và hy sinh vô bờ bến ấy, năm 1994, mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ cũng được trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý khác. Để tri ân và khắc ghi công lao của mẹ, hình tượng mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được chọn làm nguyên mẫu để xây dựng Tổng thể tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại tỉnh Quảng Nam – tượng đài về người mẹ vĩ đại lớn nhất Đông Nam Á. Tên của mẹ cũng được trân trọng đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp cả nước. Đó là biểu hiện của sự tưởng nhớ, lòng tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay và mai sau đối với mẹ.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ chính là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của mẹ không chỉ góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của đất nước mà còn để lại bài học quý giá cho các thế hệ hôm nay. Chúng ta luôn ghi nhớ công lao to lớn ấy, đồng thời không ngừng học tập, rèn luyện để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh, quyết tâm chung tay xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.



